Tìm hiểu về cuộc đời Hồ Chí Minh(2)
“Hồ
Chí Minh sinh bình khảo”
Hồ Tuấn Hùng
Người dịch: Thái Văn
Đối
Thoại:
|
Hồ
Tập Chương bị bắt ở Hà Nam, giam tại nhà ngục "Nam Thạch Đầu"
Ngày 12
tháng mười một năm 1938, "Đài Loan nhật nhật tân báo" đưa tin, Hồ Tập
Chương bị bắt giam tại nhà lao Nam Thạch Đầu, Hà Nam. Rốt cuộc "Hà
Nam" là địa phương nào? Nam Thạch Đầu ngục ở đâu? Căn cứ vào "Lịch sử
tổ chức Đảng cộng sản thành phố Quảng Châu" "Hà Nam" ở phía nam
sông Châu, còn nhà giam Nam Thạch Đầu ở phố Nam Thạch Đầu, khu Hải Châu, thành
phố Quảng Châu gọi là "Trại trừng giới". Sự kiện ngày 15 tháng tư năm
1927, Quốc dân đảng mở cuộc càn quét bắt giữ hàng loạt đảng viên cộng sản giam
giữ tại đây. Liên quan đến sự kiện "Đài Loan nhật nhật tân báo" đưa
tin Hồ Tập Chương bị giam tại nhà lao Nam Thạch Đầu, phải chăng có dính dáng
đến việc đồng nhất thân phận Hồ Tập Chương với Hồ Chí Minh, khi Hồ Chí Minh vào
tháng mười một đến tháng mười hai năm 1938 đột nhiên mất tích ở cơ quan Bát lộ
quân Quế Lâm, Quảng Tây? Hồ Chí Minh bị giam ở Quảng Châu nhưng lại mất tích ở
Quế Lâm nửa tháng đều thuộc tiểu sử Hồ Chí Minh
chưa bao giờ được báo chí đưa tin, lại càng chứng thực Hồ Tập Chương
chính là Hồ Chí Minh. Mối quan hệ nhân qủa đặc biệt quan trọng này sẽ được
trình bày cụ thể ở mục "Cơ quan Bát lộ quân Quế Lâm" và "Đài
Loan nhật nhật tân báo" trong Thiên IV.
"Hồi
ký Trịnh Siêu Lân": Hồ Chí Minh bị bắt ở Quảng Châu
Trang
mạng "Bách gia tranh minh", chuyên mục "Lĩnh Nam di dân" có
bài "Dưới Nam Sơn dằng dặc" đã đăng tải một thiên dẫn từ "Hồi ký
Trịnh Siêu Lân" liên quan đến sự kiện Hồ Chí Minh bị bắt ở Long Châu. Cũng
ở chuyên much này, ngày 16 tháng chín năm 2007, đã đăng một bài viết về Hồ Chí
Minh bị bắt, nội dung như sau: "Tôi đã nhiều lần đọc trên mạng thấy các
bài viết của nữ sĩ Đới Tình dẫn ra hai thiên "Truyện Phó Đại Khánh"
của Trịnh Siêu Lân. Trong đó, Trịnh tiên sinh đã đề cập đến Phó Đại Khánh (thân
phụ của nữ sĩ Đới Tình), vào năm 1931, đã gặp Hồ Chí Minh ở phòng tạm giam
Quảng Châu. Tại đây, Hồ Chí Minh đã nhờ Phó Đại Khánh chuyển tin đến Đảng Cộng
sản Trung Quốc đề nghị giải cứu. Từ những điều tác giả viết, Hồ Chí Minh tại
đất Trung Quốc đã hai lần bị bắt, lần đầu bị cảnh sát Hương Cảng bắt vào năm
1931, lần sau bị Quốc dân đảng bắt vào tháng tám năm 1942 ở huyện Đức Bảo, Quảng
Tây. Sau khi đọc hai bài viết trên, tôi tiến hành điều tra các nguồn tư liệu tiếng
Trung, tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Việt, nhưng không thấy bất cứ tài liệu
nào nói đến việc Hồ
Chí Minh bị bắt giam ở Quảng Châu vào năm 1931. Sau này, tôi cũng đã hỏi một
người rất thông thạo lịch sử Việt Nam là giáo sư Nguyễn Thế Anh, ông trả lời là
chưa bao giờ được nghe chuyện ấy. Lẽ nào các sử gia lại để sót sự kiện này? Tôi
bèn đọc lại "Hồi ký Trịnh Siêu Lân" và tạm thời đề xuất mấy khả năng
có thể xẩy ra như sau:
1 - Căn cứ vào văn bản của
Trịnh Siêu Lân, Phó Đại Khánh bị bắt tại Calcutta, Ấn Độ, giải về Nam Kinh thẩm
vấn, giữa đường gặp Hồ Chí Minh ở Quảng Châu, tức là hành trình Calctta - Quảng
Châu - Nam Kinh. Vậy vì sao Phó lại không đi đường Calcutta - Thượng Hải - Nam
Kinh, há chẳng tiện hơn sao? Có lẽ tuyến Thượng Hải - Quảng Châu và Calcutta,
thuyền bè qua lại không nhiều, hoặc không có. Về mặt tư liệu và chứng cứ, chúng
ta có thể phán đoán, giữa Hương Cảng và Calcutta các phương tiện giao thông rất
thuận lợi, hai nơi này lại đều là thuộc địa Anh Quốc, nên có khả năng Phó và Hồ
gặp nhau tại Hương Cảng. Trịnh lão tiên sinh, khi viết truyện này đã chín mươi
tuổi, những vấn đề thuộc về ký ức rất có thể nhầm lẫn đem Hương Cảng đổi thành
Quảng Châu. Rất tiếc tác giả đã qua đời nên không thể xác minh tường tận. Chỉ
có một điểm, thời gian hai người gặp Hồ Chí Minh bị bắt tại Hương Cảng cũng
tương đối gần nhau. Trịnh tiên sinh nói sự việc xẩy ra vào giữa mùa xuân và mùa
hè, mà thời gian chính xác Hồ bị cảnh sát Hương Cảng bắt vào ngày 6 tháng sáu
năm 1931.
2 -
Hương Cảng và Quảng Châu cách nhau hơn
trăm dặm, sau khi Hồ Chí Minh bị bắt ở Hương Cảng, cũng có thể bị giải đến
Quảng Châu, vậy vì sao không có bất cứ tờ báo nào của thực dân Anh đưa tin này?
Nếu phán đoàn và suy luận việc này là không có khả năng, như vậy, sự kiện Hồ
Chí Minh từng đến Quảng Châu rồi bị bắt (hoạc bị tạm giam) sẽ là một chi tiết
nhỏ trong tiểu sử Hồ Chí Minh mới được phát hiện.
Ở phần
trên, chúng ta đã biết đến sự kiện "Hồ Chí Minh bị bắt ở Quảng Châu"
của "Lĩnh Nam di dân". "Lĩnh Nam di dân" là chuyên mục của
nhóm người Việt gốc Hoa, đã có những nghiên cứu về lịch sử Việt Nam hiện đại. Ở
trang web này, đã có nhiều bài nghiên cứu về Hồ Chí Minh rất đáng đọc.
"Lĩnh Nam di dân" đề cập đến sự kiện "Hồ Chí Minh bị bắt ở Quảng
Châu" có tham vấn ý kiến giáo sư Nguyễn Thế Anh, là chuyên gia nghiên cứu
lịch sử cận đại Việt Nam. Đối với Hồ Chí Minh, ông cũng có những phát hiện độc
đáo, nhưng lại không hề biết về sự kiện "Hồ Chí Minh bị bắt ở Quảng
Châu". Có thể thấy, vào những năm 1929 đến 1932, việc Hồ Tập Chương hoạt
động ở Trung Quốc, được Trung cộng bảo mật khá tốt. Trong "Truyện Phó Đại
Khánh", Trịnh Siêu Lân tiên sinh viết có đoạn Phó Đại Khánh tham gia giải
cứu Hồ Chí Minh. Độc giả có thể đọc trang mạng "Lĩnh Nam di dân" hoặc
tham khảo "Lịch sử và hồi ức" của Trịnh Siêu Lân (Sử sự dữ hồi ức -
Trịnh Siêu Lân vãn niên văn tuyển đệ nhị quyển). Ngoài ra cũng có thể xem thêm
"Quốc tế cộng sản và Trung Quốc", quyển 3, ghi chép các sự kiện
trước sau năm 1930: "Phó Đai Khánh và Hồ Tập Chương nhiệt tình giúp đỡ
nhau cùng tham gia hội nghị Malaysia ở Singapore".
Bí mật
"Hồ Tập Chương bị bắt ở Quảng Châu"
Liên quan đến bí mật "Hồ
Tập Chương bị bắt ở Quảng Châu", gia đình ở Miêu Lật Đài Loan, cả hai lần
đều được biết tin. Lần thứ nhất ước vào khoảng trước sau năm 1932, Hồ Tập
Chương gửi tiền nhờ người bạn chuyển giúp. Người bạn này từ Đại Lục qua Nhật
Bản rồi mới trở về Đài Loan, thông báo với người nhà: " Hồ Tập Chương là
công chức trong 'Liên minh mậu dịch Thái Bình Dương' tại Thượng Hải, vì làm
công việc in ấn tài liệu, bị kiểm tra, niêm phong nhà, có thể bị bắt, nên phải
bí mật đến Quảng Châu tránh nạn, sau đó chuyển dến Quảng Tây, Xiêm La dạy tiếng
Nhật và khai khoáng làm kế sinh nhai". Từ sau năm 1933, vì đã nhiều năm
không có tin tức gì, gia dình cho rằng Hồ Tập Chương đã mất ở quê người.
Lần thứ hai, vào khoảng tháng
mười một đến tháng mười hai năm 1938, tờ "Nhật nhật tân báo" bằng
tiếng Nhật ở Đài Loan đưa tin "Hồ Tập Chương, người Đài Loan, được Nhật
Bản huấn luyện đặc vụ đưa đến Quảng Châu công tác, vì thân phận bại lộ, bị bắt
giam tại nhà ngục Quảng Châu. Thời kỳ quân đội Nhật tiến đánh Quảng Châu, ông
ta chạy thoát khỏi nhà giam, được giao nhiệm vụ thông dịch viên cho "Quân
lệnh bộ Quảng Đông". Năm ấy , Hồ Tập Chương có một người em út là Hồ Tập
Dưỡng bị quân Nhật trưng binh đưa đến Hạm đội Hương Cảng làm phiên dịch, đọc
"Nhật nhật tân báo" mới biết tin về Hồ Tập Chương, liền đến Quảng
Châu thăm anh. Sau đó Hồ Tập Dưỡng về Đài Loan thông báo với gia đình tình hình
gần đây của Hồ Tập Chương, đồng thời đặc biệt chuyển lười của anh với gia tộc:
"Sắp tới anh ấy sẽ đi Vân Nam chuyển đến Việt Nam để phát triển tổ chức,
nếu không thành công sẽ không về nhà. Gia dình không cần phải đi tìm".
Từ đấy về sau, Hồ Tập Chương
không có bất cứ sự liên lạc nào với gia đình.
Tiểu sử giản lược Hồ Tập Chương
1 -
Sinh năm 1901 (Minh Trị thứ 34), tức ngày 11 tháng mười năm Tân Sửu tại trang
Đồng La, quận Miêu Lật, tỉnh Đài Loan vào thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng Đài Loan.
Cha là Hồ Dần Lượng, mẹ là Lý Thị, đứng thứ 7 trong số 10 anh chị em. Cụ Hồ Dần
Lượng vốn là tú tài (sinh đồ), mở nhà
dạy học kiêm nghề bốc thuốc chữa bệnh cứu người. Dân địa phương phục tài xưng
là "Thánh nhân".
2 - Từ
năm 1906 đến 1910, học với cha. Ngay từ buổi thiếu thời, Hồ Tập Chương đã được
tiếp thụ nền giáo dục Hán học nghiên ngặt, thông thạo thi từ, viết chữ phỏng,
tuy không tinh diệu, nhưng đến việc đọc, viết đều không thành vấn đề. Sau đó
ông còn luyện tập viết chữ cho đến khi có khả năng thư pháp.
3 - Từ
năm 1910 đến 1915, vào học trường phổ thông Đông La, tiếp thụ nền giáo dục mới
của Nhật với 3 năm Hán văn và Nhật văn.
4 - Từ
năm 1916 đến năm 1921, học Khoa Hóa học ứng dụng trường Đại học Công nghiệp Đài
Bắc số 1 cùng với các sinh viên Nhật Bản. Căn cứ vào lời người chú của tác giả,
thì, lúc bấy giờ cả quận Miêu Lật chỉ có một người là Hồ Tập Chương được tuyển
chọn. Năm 1921 đỗ tốt nghiệp cấp ưu tú. Sau năm 1921, Đại học Công nghiệp Đài
Bắc số 1 và số 2 hợp nhất, đổi tên là Đại học Công nghiệp Châu lập Đài Bắc. Đến
năm 1943, số sinh viên là 1545, trong đó, Nhật Bản 1105, như vậy Đài Loan chỉ
có 429. Người Đài Loan lấy lý do chỉ có một nửa sinh viên so với Nhật nên đã
phản đối sự thống trị của đế quốc Nhật, chủ trương giành độc lập cho Đài Loan.
5 - Từ
năm 1922 đến 1928, Hồ Tập Chương trở về Miêu Lật cùng với huynh trưởng mở xưởng
nấu rượu và khai trương hiệu thuốc. Cùng với rượu và thuốc, Hồ Tập Chương còn
kết hợp với một người bạn sản xuất xì dầu. Ông thường xuyên giao du, tụ tập bạn
bè trao đổi tin tức chống Nhật, học thêm tiếng Anh và đọc các sách báo cộng
sản, có dủ điều kiện hoạt động chống Nhật nhưng chưa tham gia các tổ chức cộng
sản.
6 - Năm
1926, kết hôn với người con gái cùng thôn là Lâm Quế.
7 - năm
1928, Sinh con gái đầu lòng là Hồ Tố Mai.
8 - Mùa
thu năm 1929, Hồ Tập Chương có người anh thứ ba là Hồ Tập Phỉ cùng với em rể
Lưu Anh Hán và một người bạn ở Trung Lịch, đến bến Cơ Long, xuống tàu Nhật đi
Thượng Hải. Sau chuyến đi, người bạn trở lại Đài Loan thông báo, gia đình mới
biết Hồ Tập Chương đi Thượng Hải tham gia "Tổ chức lao động Thái Bình
Dương" của Quốc tế cộng sản. Trước khi rời Đài Loan, Hồ Tập Chương đã đốt
hết sách báo tài liệu liên quan đến cộng sản khiến người nhà không hiểu lý do,
sau này mới rõ, ông làn thế là để tránh liên lụy đến gia đình.
9 - Mùa xuân năm 1930, con
trai trưởng Hồ Thự Quang ra đời nhưng không biết mặt cha.Tôi có hỏi về mối quan
hệ giưa Hồ Chí Minh với gia đình qua những thông tin trên báo chí, Hồ Thự Quang
vào năm 2005 đã 75 tuổi, bị trúng gió nhẹ, cặp mắt hơi lệch, nói câu được câu
mất: "Lúc còn nhỏ, bác Ba (Hồ Tập Phỉ) từng nói với tôi: 'Cha cháu làm
nghề buôn bán ở Thượng Hải'. Khi tôi mười lăm, mười sáu, chú Út (Hồ Tập Dưỡng)
lại bảo: ' Cha cháu có khả năng là Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Việt Nam". Chú
Thự Quang thở dài nặng nhọc, nói đứt quãng: "Mấy chục năm nay đã nghe nhiều
tin đồn, chẳng biết có dụng ý gì. Chú muốn hỏi thân mẫu nhưng bà đã qua đời. Từ
lúc phụ tử phân ly, mỗi người một phương, chưa từng gặp mặt, cũng chẳng để lại
một dòng lưu bút nào. Được tôn xưng là 'Cha già Việt Nam', nhưng chú chắc rằng,
trong lòng ông lúc nào cũng thương cảm mà thôi". Nói rồi, ông đứng dậy,
nghẹn ngào. Tôi vội vàng đỡ lấy, an ủi: "Thời tao loạn, tạo hóa trêu
ngươi. Từ lúc chính phủ Quốc dân đảng tiến nhập Đài Loan, ông không thể về, chứ
không phải không muốn về. Tiểu thúc công chẳng đã từng nói, trên hành trình bôn
ba, Người lấy tên Hồ Quang làm bí danh, đó chẳng phải là tình cảm của Người với
gia đình sao?"
10 - Trước sau năm1932, những
người bạn thay nhau truyền tin về gia đình là, Hồ Tập Chương làm việc tại
"Liên minh mậu dịch Thái Bình Dương" Thượng Hải, khoảng thời gian
giữa mùa hạ và mùa thu năm 1931, vì việc in ấn tài liệu mà bị bắt tạm giam
nhưng đã trốn đến được đến Quảng Châu, sau đó lại bị bắt ở Quảng Châu, đến khi
được giải cứu thì chuyển về vùng biên giới Việt Trung, Xiêm La hoạt động.
11 - Năm 1932-1933, có tin Hồ
Tập Chương đến vùng núi Quảng Tây khai thác quặng, giám dịnh ngọc quý rồi
sau đó sang Xiêm La hoạt động, có nhờ một người bạn gửi tiền về cho gia đình. Từ
năm 1933, sau nhiều năm không nhận được tin tức, người nhà cho rằng Hồ Tập Chương đã qua đời.
12 - Từ tháng mười một đến
tháng mười hai năm 1938, tờ báo Đài Loan bằng tiếng Nhật "Nhật nhật tân
báo" đưa tin: "Hồ Tập Chương trốn khỏi nhà giam, bí mật đến quân
doanh Nhật ở Quảng Đông làm nhiệm vụ thông dịch cho quan chỉ huy "Quảng
Đông quân lệnh bộ". Như chúng ta đã biết, Hồ Tập Chương vốn tinh thông
nhiều ngoại ngữ như là một vốn quý nên bị các thế lực tranh thủ lôi kéo không
có gì lạ. Đến đây người nhà mới biết tin về ông.
13 - Đầu năm 1939, người em út
của Hồ Tập Chương là Hồ Tập Dưỡng, bị quân Nhật trưng binh đưa đến Hạm đội
Hương Cảng làm phiên dịch đã tìm đến Quảng Châu gặp Hồ Tập Chương. Khi về Đài
Loan, ông đã báo tin cho gia đình, đồng thời chuyển lời dặn của Hồ Tập Chương
là: "Anh ấy sắp sửa sang Việt Nam hoạt động, nếu không thành công sẽ không
về nhà, gia đình đừng tìm kiếm".
14 - Đầu năm 1939, Hồ Tập
Chương rời quân đội Nhật, gia nhập cơ quan Bát lộ quân Quế Lâm Quảng Tây thì
không gặp lại Hồ Tập Dưỡng nữa, đồng thời cũng không có bất cứ sự liên lạc nào
với gia đình.
15 -
Năm 1946, Ngô Trọc Lưu ở "Đài Bắc Quốc hoa thư tịch", xuất bản 4 cuốn
tiểu thuyết bằng tiếng Nhật, trong đó có cuốn "Hồ Chí Minh" nổi
tiếng, có xen kẽ một số sự kiện Hồ Tập Chương hoạt động ở Thượng Hải, bị bắt
giam, chính là đã truyền đạt ngầm một thông tin tối quan trọng về bí mật Hồ Chí
Minh ở Việt Nam chính là Hồ Tập Chương đến từ Đài Loan. Sau này, tiểu thuyết
"Hồ Chí Minh" chuyển ngữ sang Trung Văn được đổi tên thành "Đứa
con côi châu Á", bởi lẽ, sau khi quân đội Quốc dân đảng tiến ra Đài Loan,
Hồ Tập Chương không thể trở về quê hương, cuối cùng trở thành "Đứa con côi
châu Á".
Tiểu sử Nguyễn Ái Quốc
1-
Nguyễn Ái Quốc sinh ngày 19 tháng năm năm 1890 tại thôn Kim Liên, xã Nam Liên,
huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, Việt Nam. Tên hồi nhỏ là Nguyễn Sinh Cung, đến năm
11 tuổi đổi thành Nguyễn Tất Thành. Năm 17 tuổi, lúc ấy ông đang ở Paris đổi
thành Nguyễn Ái Quốc. Cha là Nguyễn Sinh Sắc, mẹ là Hoàng Thị Loan, là con thứ
3 trong số 4 anh chị em. Cụ Nguyễn Sinh Sắc đỗ phó bảng được bổ tri huyện, sau
khi bị cách chức chuyển sang làm thầy lang, lưu lạc đến phương Nam, bị bệnh
chết năm 1928.
2 - từ
năm 1900 đến 1904, theo học chữ Hán nhưng không liên tục, thời gian rất ngắn.
3 - Năm 1905 đến 1908, vào học
dự bị trường Quốc học Huế, học Pháp văn, Việt văn, thời gian không quá 4 năm.
4 - Năm 1910 làm giáo viên
trường tiểu họ Dục Thanh, giảng dạy môn thể dục, thời gian khoảng 1 học kỳ.
5 - Năm 1911, khi mới đến Sài
Gòn, tạm thời học nghề làm bếp, sau đó lên tàu Amiral Latouche Trevil xin làm
phụ bép. Ngày 6 tháng năm, Nguyễn Tất Thành theo tàu đến Singapore rồi tiếp tục
hành trình sang Pháp, bắt đầu cuộc đời phiêu bạt hoạt động cách mạng.
6 - Năm 1913, tàu đến
Marseille, sau khi bốc hàng, lại tiếp tục đến Tây Phi rồi đi Bắc Mỹ.
7 - Thời gian từ 1914 đến
1917, tạm trú ở London, ban ngày làm nghề quét tuyết, buổi tối phụ bếp cho một
quán ăn, học tiếng Anh, tham gia tổ chức Công nhân ngoại kiều phản đối chủ
nghĩa thực dân. Sau này, do tàu thủy cần người làm việc, lại tiếp tục hành
trình sang NewYork.
8 - Cuối năm 1917, quay lại
Paris, lấy tên Nguyễn Ái Quốc, kết giao thân thiết với các nhà cách mạng Phan
Châu Trinh, Phan Văn Trường v.v..
9 - Năm
1919, làm quen với các chính khách Tả khuynh Pháp Marcel Cachin, Paul
Vaillant Couturier, Léon Blum và gia nhập đảng Xã hội Pháp cùng với nhóm Phan
Văn Trường, xuất bản tờ tuần san "Việt Nam hồn". Từ đó tên tuổi Nguyễn
Ái Quốc nổi tiếng ở Pháp, ảnh hưởng trở lại Việt Nam.
10 - Gửi bản kiến nghị 8 điểm đến Hội nghị hòa bình
Versailles, ký tên Nguyễn Ái Quốc, đã có ảnh hưởng lớn đến cả hai nước Pháp, Việt.
11
-Năm 1920, tham gia Đại hội Tour của đảng Xã hội Pháp, lên án tội ác của chủ
nghĩa tư bản Pháp đối với nhân dân Việt Nam. Cũng ở Đại hội này, Nguyễn Ái Quốc
gia nhập đảng Cộng sản, trở thành đảng viên sáng lập của đảng Cộng sản Pháp.
12
- Năm 1921, Đại hội đại biểu toàn quốc đảng
Cộng sản Pháp cử hành tại Marseille, tích cực hoạt động tuyên truyền phản đối
chủ nghĩa thực dân Pháp, trở thành chuyên gia về vấn đề "Chủ nghĩa thực
dân" của Đảng Cộng sản Pháp.
13 - Cùng một số người yêu
nước của các thuộc địa Pháp ở Bắc Phi và
Madagasikara đang sống tại Paris thành lập "Hội Liên hiệp thuộc
địa" ((L'Union Intercoloniale) và xuất bản tờ báo "Người cùng khổ"
(Le Paria), phát hành được 38 kỳ.
14 -Tháng sáu năm 1923 rời Paris, tháng bảy đến Mạc Tư
Khoa, được phân công làm việc tại Cục Viễn Đông của Quốc tế cộng sản. Tháng mười,
tham gia Đại hội thành lập "Hội nông dân quốc tế", sau đại hội được bầu
vào Đoàn chủ tịch của tổ chức này. Tháng
mười hai, vào học trường Đại học Lao động phương Đông, tiếp thụ khóa
trình huấn luyện 7 tháng về chủ nghĩa Marx-Lenin.
15 - Tháng sáu năm 1924, tham gia Hội nghị Quốc tế cộng sản
lần thứ V, tìm mọi cách tranh thủ mọi cơ hội lên án đế quốc Pháp xâm lược và chủ
nghĩa thực dân. Đảng Cộng sản Pháp giới thiệu ra tranh cử dân biểu khu vực
Paris, mở ra cho Nguyễn Ái Quốc chỗ đứng trong vai trò vận động các nhà lãnh đạo
quốc gia đối với phong trào Cộng sản.
16
- Tháng mười năm 1924, rời Mạc Tư Khoa đến Vladivostok, từ đây, xuống tàu về Quảng Châu ngày 11 tháng mười
một.
17 - Năm 1925, tại Quảng Châu,
tham gia thành lập tổ chức bí mật "Tâm tâm xã", sau đổi thành
"Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội", kết nạp 10 thành viên,
trở thành nhóm đảng viên dự bị đầu tiên cho việc thành lập Đảng sau này, là
tiếng kèn hiệu đưa Việt Nam vào quỹ đạo phong trào Cộng sản thế giới. Từ tháng
sáu năm 1925 đến tháng năm năm 1930, tuần san "Thanh niên" bằng tiếng
Việt đã phát hành 208 kỳ, phần lớn các bài xã luận là do Nguyễn Ái Quốc viết.
18 - Năm 1926 tham dự Đại hội
đại biểu toàn quốc Quốc dân đảng lần thứ II taj+i Quảng Châu, gửi Đại hội một
bức thư ngắn gọn bằng tiếng Trung (tôi nhận thấy, đây là lần thứ nhất và cũng
là duy nhất, Nguyễn Ái Quốc công khai viết bằng tiếng Trung), trình bày Việt Nam
bị thực dân Pháp áp bức thống khổ. Trong Đại hội, Nguyễn Ái Quốc phát biểu bằng
tiếng Pháp được Lý Phú Xuân chuyển dịch sang tiếng Hoa. Được Trung cộng giúp
đỡ, Nguyễn Ái Quốc tích cực vận động người Việt Nam gia nhập "Việt Nam
thanh niên cách mạng đồng chí hội".
19 - Ngày 18 tháng mười năm
1926, tại nhà hàng Thái Bình Dương, kết hôn với Tăng Tuyết Minh. Đặng Dĩnh Siêu
và Thái Sướng là người giới thiệu và làm chứng. Borodin và Trương Thái Lôi cũng
đến dự hôn lễ.
20 -
Năm 1927, vì có cuộc thanh trừng cộng sản của Quốc dân đảng nên phải bí mật rời
đến Vũ Hán. Tháng bảy, hợp tác Quốc Cộng tan vỡ, rời Vũ Hán đến Mạc
Tư Khoa.
21 - Tháng mười một năm 1927, được lệnh đến Paris trợ giúp
đảng Cộng sản Pháp xây dựng kế hoạch phát triển có hiệu quả cuộc vận động cách
mạng Đông Nam Á. Đầu tháng mươi hai, được Quốc tế cộng sản cử đến Bruxelles
tham dự "Hội nghị Đồng minh phản đối đế quốc", sau đó qua Thụy Sĩ,
Italia và Pháp khảo sát thực tế.
22 - Cuối tháng sáu năm 1928, đi tàu thủy của hãng vận tải
Nhật Bản đến Bagkok Thailand vào tháng bảy, kiểm tra các tổ chức cách mạng Việt
kiều và thành lập "Xiêm La cách mạng đồng chí hội".
23
- Năm 1929, tìm kiếm phương pháp chữa bệnh đông y để điều trị lao phổi. Sau
này, ông có báo cáo với các đồng chí Việt Nam ở Hương Cảng là phải tạm thời dừng chân ở Xiêm
chữa bệnh một năm, không thể tiếp tục công tác được.
24 -
Đầu năm 1930, rời Bangkok đến Quảng Châu. Ngày 3 tháng hai, tại Hương Cảng,
tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc Việt Nam cách mạng đảng do Nguyễn Ái Quốc
điều hành. Ba tổ chức cộng sản vốn mâu thuẫn với nhau, hợp nhất thành một đảng
lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng mười, chủ trị hội nghị lần thứ nhất
Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, chấp hành chỉ thị của Quốc
tế cộng sản, lại đổi thành Đảng Cộng sản Đông Dương.
25
- Năm 1931, được cử làm đại biểu Quốc tế cộng sản tại Hương Cảng, phụ trách Cục Nam
Dương. Cục Viễn Đông Quốc tế cộng sản bị khám xét. Ngày 6
tháng sáu, chính quyền Hương Cảng gán cho tội danh là phần tử phá hoại. Nhà đương cục Pháp tại
Việt Nam trước đó cũng đã truy tố các tội danh chống Pháp và phán quyết tử hình
vắng mặt, yêu cầu chính quyền Hương Cảng dẫn độ về Việt Nam thụ hình. Tại Hương
Cảng, luật sư Loseby tìm mọi cách cứu Nguyễn Ái Quốc và bố trí cho ông đi
Singapore.
26 -
Đầu năm 1932, Nguyễn Ái Quốc bị thêm tội danh nhập cảnh trái phép do cảnh sát
Singapore không cấp thị thực, buộc phải trở lại nhà giam Hương Cảng. Tại đây,
luật sư Loseby cùng với tình báo viên Anh Quốc Paul Draken đã
bí mật giải cứu đưa lên một chiếc thủy phi cơ bay đến bến sông Hoàng Phố, sau
đó được các đồng chí của ông đưa thuyền ra đón về Thượng Hải. Mùa thu năm 1932,
từ Thượng Hải đi Mạc Tư Khoa, bệnh lao phổi tái phát nguy kịch,
đã chết trên đường đi.
(Tác giả nhận xét: Có thể căn cứ vào những tấm ảnh đã chụp
từ 10 đến 20 năm về trước để phân biệt được Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, đối
với người phương Tây nhìn người phương Đông thì hoàn toàn không dễ. Khuôn mặt
người ta qua thời gian có sự biến đổi, nhưng cái tai và nhất là vành tai, trái
lại không dễ biến dạng. Tai và vành tai
Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh có không nhiều những nét khác nhau để chứng minh
sự bất đồng. Tấm ảnh Nguyễn Ái Quốc (trong hồ sơ), phía trên cùng bên phải,
William J. Duiker không ghi chú thời gian. Tác giả Trung Quốc Tào Tấn Kiệt
trong tác phẩm "Các lãnh đạo quốc gia nước ngoài trong chiến tranh chống
Nhật tại Trung Quốc", ghi chú ảnh chụp vào mùa xuân năm 1925 tại Quảng
Châu. Tấm ảnh này thường xuyên được lưu trong hồ sơ Hồ Tập Chương (ảnh 1) cùng
thay nhau xuất hiện là có sự liên kết về diện mạo giữa Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí
Minh (Hồ Tập Chương). Như ảnh (1), (2), ảnh (1) là Nguyễn Ái Quốc, ảnh (2) là
Hồ Chí Minh (Hồ Tập Chương).Tôi nhận ra tấm ảnh Nguyễn Ái Quốc này, cơ bản là
ảnh giả, nhất là phía tai trái hiện ra rất rõ.Ý đồ là, dùng tấm ảnh Hồ Tập
Chương chụp năm 1934 tại Mạc Tư Khoa làm ảnh Nguyễn Ái Quốc để hợp nhất
hai người làm một. So sánh một loạt ảnh chụp của Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh, có thể thấy, diện
mạo của hai người có nhiều nét khác nhau.
Phụ lục1
Ảnh của Nguyễn
Ái Quốc và Hồ Chí Minh trong hồ sơ
Ảnh chụp trong hồ sơ Nguyễn Ái Quốc
1/ Ảnh chụp năm 1923 tại Pháp trong
"Truyện Hồ Chí Minh" của
William J. Duiker.
2/
Ảnh chụp năm 1923
tại Nga Xô trong "Truyện Hồ Chí Minh" của William J. Duiker.
3/ Ảnh Hồ Chí Minh không rõ xuất xứ và thời
gian. Đây là tấm ảnh nghi vấn trong "Truyện Hồ Chí Minh" của William J. Duiker.
5/ Ảnh
Nguyễn Ái Quốc trong nhà triển lãm ở Việt Nam
Ảnh truyền thần
của của Nguyễn Sinh Huy, thân phụ Nguyễn Ái Quốc.
6/ Tấm ảnh này chụp năm 1924 tại Liên Xô trong
"Những năm tháng mất tích của Hồ Chí Minh, 1919- 1941" của Sophie
Quinn - Judge.
Ảnh trong hồ sơ Hồ
Tập Chương
6/ Ảnh Hồ Chí Minh năm 1934 tại Mạc
Tư Khoa trong "Truyện
Hồ Chí Minh" của William
J. Duiker.
Phụ lục 2
"Hồi
ức Trịnh Siêu Lân - Truyện Phó Đại Khánh"
Sau khi
các lưu học sinh theo phái Troskism (Thác phái) từ Mạc
Tư Khoa về, lần lượt tổ chức thành 3 nhóm:
1- Đầu tháng giêng năm1928, Sử Đường (Thi Thúc Vân), Lương
Cán Kiều, Trần Diệc Mưu thành lập "Trung Quốc đệ nhất Thác phái"
(Phái phản đối chủ nghĩa Bolshevik Lenin tại Trung Quốc).
2 - Phái Troskism phản đối bí mật của lưu học sinh Trung Quốc tại Liên Xô, sau
khi họ về nước, phia Liên Xô cung cấp danh tính, nên toàn bộ đã bị khai trừ
hoặc tự ly khai Đảng. Vương Văn Nguyên, Lưu Nhân Tĩnh, Ngô Quý Nghiêm, Lê Thái
Liên đều ở trong số đó. Tháng giêng năm 1930, Lưu Nhân Tĩnh, Vương Văn Nguyên
thành lập "Liên minh cộng sản Phái Tả Trung Quốc" - "Thập nguyệt
xã".
3 -
Nhóm Triệu Tế, Lưu Dân, Vương Bình gồm 7 người, sau khi từ Mạc Tư Khoa về,
thành lập tổ chức "Chiến đấu xã".
Trong
nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc, Trần Độc Tú, Doãn Khoan, Bành Thuật Chi, Trịnh
Siêu Lân phát hiện Vương Bình trong nhóm lưu học sinh từ Mạc
Tư Khoa về, chẳng những đã tiếp thu lý thuyết của Léon Troski mà còn mang theo tài
liệu nghiên cứu, đồng thời có ý kiến khác biệt đối với tiến trình cách mạng Trung Quốc. Từ đó, trong
Đảng Cộng sản Trung Quốc đã hình thành phái Troskism do Trần Độc Tú cầm đầu.
Thật ra, lúc ấy, Đảng Cộng sản Trung Quốc chưa có một tổ chức cụ thể mà chỉ tập
hợp xung quanh Trần Độc Tú một số thành viên thường xuyên trao đổi với nhau về
những vấn dè chính sách của Đảng mà thôi. Trong tình hình ấy, nhòm Trần Độc Tú
đề nghị gia nhập nhóm "Đối thoại" nhưng nhiều lần bị cự tuyệt, đến
tháng chín năm 1929 thành lập "Đảng Cộng sản Trung Quốc phái Tả phản đối
phái", xuất bản "Người vô sản" được gọi là "Vô sản giả
xã".
Bốn
phái Troskism sau được thống nhất thành một tổ chức. Ngày 1 tháng năm năm 1935,
triển khai Đại hội gồm 17 đại biểu chính thức, 4 đại biểu dự thính, đại diện
cho 482 đảng viên. Tại Đại hội, Trần Độc Tú đọc báo cáo cương lĩnh chính trị
của "Đảng Cộng sản Trung Quốc phái Tả phản đối phái" gồm 5 phần:
1-
Nhiệm vụ thời kỳ quá dộ của Phản đối phái.
2 - Bài
học kinh nghiệm về sự thất bại của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
3 -
Chính sách của Đảng trong thời kỳ quá độ.
4 -Tiền
đồ cách mạng Trung Quốc.
5 -
Nhiệm vụ trước mắt của Phản đối phái.
Cương
lĩnh xác định, xã hội Trung Quốc thành phần tư bản chủ nghĩa chiếm ưu thế so
với tư bản chủ nghĩa xã hội, do đó mà xuất hiện tính chất của cách mạng Trung
Quốc là cách mạng xã hội chủ nghĩa, giai cấp vô sản lãnh đạo nông dân lật đỏ
chính quyền tư sản, "kiến lập giai cấp chuyên chính vô sản'. Trung Quốc
phải hoàn thành nhiệm vụ Cách mạng dân chủ tư sản rồi mới tiếp tục tiến trình
Cách mạng vô sản, chuyên chính giai cấp. Nhiệm vu trước mắt là, triệt để thực
hiện khẩu hiệu dân chủ theo hướng Cách mạng lần thứ ba (Sau này đề xuất lấy "Tổng
tuyển cử quốc dân hội nghị" làm khẩu hiệu trung tâm đấu tranh đòi dân chủ,
vận động quần chúng ủng hộ cách mạng), lạt đổ chính phủ Quốc dân đảng. Đại hội
thông qua dự thảo cương lĩnh, bầu ủy viên Trung ương, cử 5 người vào Ban Bí thư
do Trần Độc Tú làm Tổng Bí thư, Trịnh Siêu Lân là trưởng ban Tuyên truyền, chủ
nhiệm báo Đảng là Vương Văn Nguyên, trưởng ban Thư ký là Tống Phùng Xuân. Đại
hội biểu quyết thông qua tên đảng là "Đảng cộng Tả phái tả phản đối
phái" còn gọi là " Đảng cộng sản Bolshevik-Lenin Trung Quốc", là
một phái riêng của những người cộng sản Trung Quốc.
Năm 1933, phái Troskism ly
khai Đảng Cộng sản, tiến hành cải tổ đảng theo đương lối riêng. Năm 1935 chuẩn
bị thành lập Quốc tế cộng sản mới. Cũng trong năm này, Đại hội đại
biểu phái Troskism tại Thượng Hải quyết định đổi tên thành "Liên minh Cộng sản chủ nghĩa
Trung Quốc". Từ đó, phái Troskism Trung Quốc, một lần nữa không coi mình
là một phái lệ thuộc Đảng cộng sản và cũng không cùng là một chính đảng cộng
sản chủ nghĩa của Đảng Cộng sản.
Trong một hoàn cảnh đặc biệt,
tôi gặp được Phó Đại Khánh. Đó là thời gian vào giữa mùa hè và mua thu năm
1931. Khi ấy tôi đã bị Đảng Cộng sản khai trừ, vì hoạt động Troskism, bị Quốc
dân đảng bắt giam ở Bộ tư lệnh Cảnh bị Long Hoa (tác giả nhận định: địa điểm ở
gần khuôn viên lăng liệt sĩ Long Hoa, đường Tào Khê, Thượng Hải), chờ đợi phán
quyết. Tôi ở "Nhân tự gian", nơi có rất nhiều tù chính trị. Một hôm,
cai ngục dẫn vào một phạm nhân đến từ Quảng Châu. Thoạt nhìn, tôi xuýt nữa tôi
nhảy dựng lên bởi người này chính là Phó Đại Khánh. Phó Đại Khánh lướt nhìn hết
lượt phạm nhân nhưng đều không nhận ra ai quen, bỗng trông thấy tôi, vội vàng
chạy đến, khẽ bảo: "Có chút việc muốn báo về Trung ương". Rõ ràng ông
không biết tôi đã bị khai trừ, tuy nhiên lúc này cũng chẳng cần phải nói mình
thuộc phái Troskism. Tôi đống ý, ông ấy bèn nói cho biết.
Nguyên
là Phó Đại Khánh làm báo tiếng Anh ở Calcutta, Ấn Độ. Tờ báo bị đóng cửa, Phó
bị bắt, dẫn độ về Nam Kinh thẩm vấn. Lúc bị giam ở nhà lao Quảng Châu, ông ta
có gặp Hồ Chí Minh. Hồ nhờ ông ta thông báo đến Trung ương Đảng Cộng sản Trung
Quốc tìm cách giải cứu, vì thế ông ta mới đề nghị tôi giúp đỡ. Vì nghĩa không
thể từ chối, hơn nữa, tôi và Hồ Chí Minh đã từng quen biết nhau, chỉ có điều,
làm cách nào chuyển tin cho Đảng Cộng sản Trung Quốc đây? Tôi suy nghĩ và dự
đoán, ở nhà giam Long Hoa nhất định phải có chi bộ Đảng bí mật, có thể truyền
đạt được tin này. Nhưng tôi lại không biết người phụ trách là ai. Trong số các
chính trị phạm ở "Nhân tự gian", tôi chỉ biết hai người là Trần Vi Nhân và Quan Hướng Ứng.
Đắn đo mãi, cuối cùng tôi tìm gặp Trần Vit Nhân, nói: "Phạm nhân Phó Đại
Khánh bị bắt ở Ấn Độ, vừa được giải đến, sẽ được đưa về Nam Kinh. Ông ấy có một
báo cáo quan trọng với Trung ương, nhờ tôi chuyển đến ông". Trần Đạt Nhân
lập tức đứng lên. Tôi đem lời Phó Đại Khánh nói không sai một chữ. Nghe xong,
Trần Vi Nhân không nói một lời. Tôi hiểu mình đã đạt được mục đích. Ba ngày
sau, Phó Đại Khánh bị giải đi.
THIÊN III
Những năm tháng phiêu bạt
Màn một
Hồ Chí Minh ở
Liên Xô (1933 - 1938)
S
|
au năm 1923, có đến bảy, tám lần Hồ Chí Minh đến Mạc
Tư Khoa. Thời gian lưu lại thường không quá một năm, duy chỉ có lần từ năm 1933
đến năm 1938 là ở đến 5 năm. Trong 5 năm ấy, phong trào cách mạng Việt Nam
chống Pháp vô cùng sôi nổi, vậy vì sao Hồ Chí Minh lại bị giam lỏng ở Mạc
Tư Khoa, dùng thời gian nhàn rỗi để nghiên cứu chủ nghĩa Marx mà không trở về
nước cùng các đồng chí của mình chỉ đạo quần chúng đấu tranh? Việc này nếu đem
so sánh với phong cách hoạt động tích sực của Nguyễn Ái Quốc thì hoàn toàn khác
nhau. Vì sao Hồ
Chí Minh không báo cáo với Quốc tế cộng sản về hoàn cảnh của mình? Kỳ lạ
hơn nữa, trong 5 năm ấy, những ghi chép về Hồ Chí Minh khiến người ta đặt ra đặt dấu hỏi nghi ngờ
về thân phận cũng như các mối quan hệ của ông khá bí hiểm và phức tạp. Ví như,
thời gian nào Hồ Chí Minh đến Mạc Tư Khoa? Vì sao hói đầu và bị phán quyết tử
hình? Vì sao bị cưỡng chế học tập cải tạo? Vì sao ở Đại hội VII Quốc tế cộng sản
chỉ đóng vai im lặng? Lại vì sao nhẫn nhục chịu đựng khi mà vợ mình kết hôn với
người khác? Năm 1938 rời khỏi Mạc Tư Khoa theo chỉ thị của ai? Vì sao trên đường
ngàn dặm tìm đến Diên An Trung Quốc mà không quay về Việt Nam? Vô số những điều
nghi vấn đặt ra chứng tỏ bên trong ẩn giấu nhiều bí mật.
Nhiều
hồ sơ đã được Quốc tế cộng sản giải mật nhưng không phải là tất cả. Thành ra,
như William J. Duiker nói: "Rõ ràng những tài liệu quan trọng đã có ở đó
nhưng trước sau vẫn không thấy". Đơn cử như trường hợp Hồ Chí Minh bị phán xử tử hình
hiện tại ở đâu? Vì sao "Hồ Chí Minh tự truyện" hai lần xuất bản lại
có năm sinh khác nhau là 1890 và 1893? Hồ sơ lưu của Quốc
tế cộng sản có một phần từ 17 tháng tư năm 1938 viết, bút danh P. C. Lin trong
tự truyện có phải tự truyện của Nguyễn Ái Quốc hay là tự truyện của Hồ Tập Chương? Vợ Nguyễn Ái
Quốc là Nguyễn Thị Minh Khai vì sao lại tự mình điền vào bản khai cá nhân đã
kết hôn, chồng tên là Lin (Lâm), trong khi ấy, ngay trước mặt Lin lại làm lễ
thành hôn với Lê Hồng Phong? Có quá nhiều những dấu hiệu không bình thường ấy
đã chứng tỏ, những ghi chép về thân phận Hồ Chí Minh có vẻ như đã bị sửa chữa
hoặc thay đổi. Vì sao Quốc tế cộng sản phải làm như vậy? Căn cứ vào
những manh mối qua các ghi chép mơ hồ mà phân tích, chỉ có một khả năng là, người
ta đã cố ý đem Hồ
Tập Chương hoán đổi thành Nguyễn Ái Quốc để đạt mục đích "mượn xác hoàn
hồn".
Hồ Chí Minh
đến Mạc Tư Khoa vào thời gian nảo?
Hồ Chí
Minh rời Thượng Hải đi Mạc Tư Khoa khi nào? Có nhiều ý kiến khẳng định
là không thể xác định được thời gian cụ thể. William J. Duiker cho rằng vào mùa
xuân năm 1934.
Sophie Quinn - Judge căn cứ vào chữ ký "Lin" trong "Tự
truyện" dẫn lời Hồ Chí Minh kể, tháng bảy năm 1934, ông mới đến Mạc
Tư Khoa" nhưng lại tỏ ra nghi ngờ, không có bất cứ tài liệu nào làm rõ, từ
mùa thu năm 1933 đến những tháng đầu năm 1934 ông ở đâu? Cả William J. Duiker lẫn
Sophie Quinn -
Judge đều cho rằng, thời gian Hồ Chí Minh đến Mạc Tư Khoa căn
cứ vào lúc Hồ Chí
Minh rời Thượng Hải đi Mạc Tư Khoa chỉ là suy đoán. Tuy nhiên, thời
gian Hồ Chí Minh rời
Thượng Hải, bản
thân nó vẫn là một câu đố. Riêng quan điểm cá nhân, tôi cho rằng, thời gian ấy
vào cuối năm 1933, muộn lắm cũng không quá mùa hè.
Thời
gian Hồ Chí Minh đến Mạc Tư Khoa liệu có khó xác minh đến như vậy
không? Vào lúc Hồ
Chí Minh đến Mạc Tư Khoa, phô trương náo nhiệt, được Bí thư thứ nhất
Cục Viễn Đông đón tiếp như nghi thức của bậc anh hùng, khó có thể làm thủ tục
xuất nhập cảnh nếu không có những ghi chép của hải quan về nhân thân. Những năm
ba mươi của thế kỷ XX, Nga Xô đang ở vào thời kỳ đại thanh trừng. Mọi công dân
đều bị giám sát , có thể bị điều tra, bắt giữ hoặc xử tử bất cứ lúc nào nếu được
gán cho tội danh "kẻ thù của nhân dân". Tác phẩm "Chân dung bạo
chúa" của An Đông Lạc Phu. Áo Phí Thân Khoa (2) đã viết:
"Từ năm 1935 đến năm 1940, Liên Xô đã bắt giữ 19 triệu 840 nghìn người,
trong đó có 7 triệu người bị chết". Mạc Tư Khoa là trung tâm cao độ giám
sát, khống chế một cách ráo riết mọi lời nói và hành vi của người dân".
Những tài liệu ghi
chép về thời kỳ Hồ đến Mạc Tư Khoa rất dễ dàng nhận biết, vậy vì sao Quốc tế cộng
sản không có tài liệu khi ông nhập cảnh? Nhất định là phải có nguyên nhân đặc
biệt không thể tiết lộ nên đã giấu kỹ thậm chí tiêu hủy. Lại như, vào đầu năm
1923, khi Nguyễn Ái Quốc đến Mạc Tư Khoa thì trong truyện có viết không? Đến
năm 1938, nghĩa là 15 năm sau, tuyệt nhiên chẳng có trang nào ghi chép sự kiện
này. Thời gian nào Hồ
Chí Minh bị phán xử tử hình? Hồ sơ điều tra vụ án này hiện ở đâu? Từ rất nhiều
những chi tiết bất hợp lý trên, tôi suy đoán là, các hồ sơ liên quan đều đã bị
tiêu hủy.
Căn cứ
vào thời gian Hồ Tập Chương rời Thượng Hải và suy đoán, ông đến Mạc
Tư Khoa vào khoảng từ mùa xuân đến mùa hè năm 1933.
Sự thật về sự kiện Hồ
Chí Minh bị kết án tử hình
Theo
Sophie Quinn - Judge, vào năm 1992, cùng với Anatoly Voronin là cựu Ủy viên
Trung ương Bộ Quốc tế, nói chuyện về những tư liệu đã được ghi chép: " Hồ
Chí Minh chịu sự điều tra của tổ 3 người gồm Dmitry Manuilsky, Vera Vasilieva
và trùm dặc vụ Trung Quốc Khang Sinh. Dmitry Manuilsky thuộc thành phần trung
lập, trong khi Khang Sinh giữ quan điểm đề nghị xử tử Hồ Chí Minh.
VeraVasilieva lấy lý do phải làm theo trình tự để tránh sai lầm do mình còn
thiếu kinh nghiệm, đã thay Hồ Chí Minh bào chữa. Đến năm 1935, Khang Sinh mới
tin Hồ Chí Minh bị bắt vào năm 1931 nên đã đề nghị khai trừ ông ra khỏi đảng.
Tuy nhiên vẫn còn thiếu một số tài liệu quan trọng có khả năng đã bị Cục An ninh
Liên Xô giấu đi, vì thế chúng ta không thể nào biết được Hồ Chí Minh bị chỉ
trích nghiêm trọng đến mức nào.
Do nhu
cầu chính trị, Hồ Chí Minh đã có những
quyết sách nhiều khi vượt ra ngoài phạm vi quyền hạn, đặc biệt vào giai đoạn
những năm 1930. Cũng có khả năng Hồ Chí Minh ngả theo con đường Lý Lập Tam
khiến Khang Sinh nghi ngờ, nhưng Dmitry Manuilsky và Vera Vasilieva vẫn giữ
quan điểm. vì thế, khi biểu quyết hình thức kỷ luật, trùm đặc vụ Trung Quốc bị
thiểu số". Đoạn ghi chép trên là của Sophie - Quinn Judge trong tác phẩm
"Những năm tháng mất tích của Hồ Chí Minh, 1911-1941", trang 207.
Án tử hình của Hồ Chí Minh đối với Nguyễn Ái Quốc hoàn toàn
không liên quan. Đối tượng bị điều tra không phải là Nguyễn Ái Quốc. Tôi xin
nhấn mạnh một lần nữa, vào mùa thu năm 1932, Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao
phổi. Khoảng giữa xuân hè năm 1933, người từ Thượng Hải đi Mạc
Tư Khoa là Hồ Tập
Chương mà không phải Nguyễn Ái Quốc. Huống nữa, Quốc tế cộng sản
đã cử đại biểu đến làm lễ truy điệu Nguyễn Ái Quốc, làm sao có thể truy cứu
trách nhiệm để xử án một người đã chết? Án đặc biệt điều tra Hồ Chí Minh, phần quan trọng
nhất, có liên quan đến việc chấp hành công tác được Quốc
tế cộng sản giao phó thời kỳ năm 1930. Đó
Ảnh chụp Nguyễn
Ái Quốc vào năm 1934 tại Mạc Tư Khoa (lấy từ tác phẩm "Tóm tắt về sự nghiệp
Hồ Chí Minh", NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2007
là ông đã truyền đạt
sai lạc chỉ lệnh về công tác liên lạc giữa Trung cộng và Việt cộng.
Rất có
khả năng là vào năm 1930, Hồ Chí Minh tham gia Hội nghị "Liên minh Trung
Quốc phản đối chủ nghĩa đế quốc" của Lý Lập Tam và ngả theo đường lối sai
lầm của họ Lý ảnh hưởng đến Việt Nam, làm cho Trần Phú và một số lãnh đạo cao
cấp của Đảng Cộng sản Đông Dương bị bắt. Đây là nguyên nhân khiến cho Lý Lập
Tam và Khang Sinh đối với nhau như kẻ thù không đội trời chung, dẫn đến hệ lụy
là Hồ Chí Minh bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Trung Quốc, thậm chí trùm đặc vụ
còn đề xuất mức án tử hình. Trong khi ấy, Khang Sinh và Nguyễn Ái Quốc chưa
từng quen biết nhau, lại không có mâu thuẫn gì trong quan hệ để khép một người
đã qua đời vào trọng tội.
Trong
quá trình điều tra, Hồ Chí Minh bị hói đầu, nhưng tấm ảnh lưu trong hồ sơ so
với ảnh chụp Nguyễn Ái Quốc lại không giống nhau (Hồ Chí Minh bị hói đầu trong
tấm ảnh bên có đóng dấu và chữ ký). Đặc biệt, tại bản báo cáo điều tra về Hồ
Chí Minh năm 1934, ông dã tự điền vào bản khai là sinh năm 1903, so với Nguyễn
Ái Quốc sinh năm 1890 thì chênh nhau 13 năm. Nhân vật vào năm 1934 vào học
trường Đại hoc Lenin, bí danh P.C.Lin là Hồ Chí Minh mà nhân viên điều tra đã
viết như sau: "Ông ta không có gia đình, vợ con, không nghề nghiệp chuyên
môn, không biết bất cứ ai là lãnh đạo, cũng không biết mình có thể làm được
công tác gì". Phần tử bị điều tra này so với Nguyễn Ái Quốc hoàn toàn trái
ngược nhau. Bất cứ một điều tra viên nào của Quốc tế cộng sản
cũng không thể tin được mình đang điều tra về Nguyễn Ái Quốc. Huống chi, từ năm
1923 đến 1927, Nguyễn Ái Quốc đã hai lần lưu lại Mạc Tư Khoa, có hồ sơ lưu trữ
tại Quốc tế cộng sản. Thân phận chân chính của Hồ Chí Minh đã bị Quốc
tế cộng sản che giấu nên đã nảy sinh vô số câu hỏi nghi vấn. Từ sự kiện điều
tra về án tử hình, chính là bằng chứng rõ ràng khẳng định Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh là hai người khác
nhau. Hồ Chí Minh đã được Vera Vasilieva ra sức bảo vệ may mắn thoát khỏi kiếp
nạn.
Quốc tế cộng sản đạo diễn vở kịch "Mượn
xác hoàn hồn"
Từ năm 1929 đến 1933, Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh phân biệt nhau
hoạt động ở vùng Đông Nam Trung Quốc, Xiêm La
và Singapore. Nội dung hoạt động của họ không giống nhau, chỉ là ghi
chép vào hồ sơ duy nhất một danh xưng Hồ Chí Minh làm lịch sử bị lẫn lộn. Đặc biệt
vào năm 1930, hai người cùng tổ chức thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, năm
1931, một người bị bắt ở Hương Cảng, một người bị bắt ở Quảng Châu. Chuyện sờ
sờ trước mắt nhưng lại bị Quốc tế cộng sản cùng với Trung cộng , Việt cộng che
giấu quy về cho một Hồ Chí Minh. Thậm chí, mùa thu năm 1932, Nguyễn Ái Quốc đã
chết vì bệnh lao phổi, vậy mà đến đầu năm 1933 tự nhiên được dựng dậy, sau đó
dùng Hồ Tập Chương thay Nguyễn Ái Quốc, tạo ra một nhà cách mạng mới là Hồ Chí
Minh tiếp tục vai diễn trên vũ đài chính trị. Ai đã ra lệnh cho Hồ Tập Chương
thay thế Nguyễn Ái Quốc và đạo diễn vở kịch "Người chết sống lại"? Ai
đã chỉ đạo Hồ Chí Minh tiếp tục diến xuất trên vũ đài lịch sử và tính toán để
lại cho hậu thế một loại hồ sơ chắp vá, một tiểu sử lắp ghép về Hồ Chí Minh?
Căn cứ vào trước tác của các nhà nghiên cứu
về Hồ Chí Minh, kiên trì tìm kiếm, cuối cùng tôi cũng phát hiện ra vô số điều
bất hợp lý trong lịch trình hoạt động của Hồ Chí Minh, mới tìm được cái cần tìm
trong cả mớ bòng bong tư liệu thật giả lẫn lộn ấy. Như vén mây thấy mặt
trời, tôi nhìn ra chân tướng lịch sử, và phần nào giải thích được mối quan hệ
nhân quả của giai đoạn lịch sử này, đồng thời khâm phục thủ pháp cao tay của
đạo diễn đứng sau sân khấu. Ấy là những
tay tổ của Quốc tế cộng sản, Trung cộng và Việt cộng chóp bu đã phối hợp nhịp nhàng
với nhau, tạo ra một nhân vật Hồ Chí Minh đầy bí hiểm.
Vera
Vasilieva và Hồ Chí Minh
Vera
Vasilieva là người chịu trách nhiệm chính trong ban lãnh đạo Quốc
tế cộng sản về những vấn đề Việt Nam, từ khi Nguyễn Ái Quốc bị bắt ở Hương Cảng đã tham gia vào
công tác giải cứu. Trên đường đi, không ngờ, Nguyễn Ái Quốc bị bệnh qua đời.
Vera Vasilieva được cử làm người bào chữa cho Hồ Tập Chương, do vậy mà phát
hiện ra Nguyễn Ái Quốc và Hồ Tập Chương là hai người khác nhau, có hoàn cảnh
khá giống nhau, thân thế, ngoại hình, ngôn ngữ gần nhau, và nhất là thông thạo
nhiều ngoại ngữ. Hai người này từ năm 1929 đến 1931 cùng công tác tại Cục
Viễn Đông Quốc tế cộng sản, cùng được giao những công việc quan trọng, và đặc
biệt là lại cùng bị bắt vào năm 1931.
Tuy
vậy, Xung quanh sự kiện Nguyễn Ái Quốc rời Thượng Hải đến Mạc Tư Khoa, ngoài quan điểm cho rằng ông
đã qua đời trên đường đi vì bệnh lao phổi, còn một ý kiến khác là cuộc trốn chạy
thành công, có điều những chứng cứ đưa ra đều rất khó thuyết phục, trong khi
báo chí cộng sản đã đồng loạt đăng tin nhà cách mạng đã chết, thậm chí đại biểu
Quốc tế cộng sản còn đến dự lễ truy điệu. Từ những hoàn cảnh và điều kiện phức
tạp như vậy, Vera Vasilieva nảy ra ý nghĩ, đề nghị Hồ Tập Chương thay thế vai trò
của Nguyễn Ái Quốc, tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ của ông. Hơn thế nữa, Hồ Tập
Chương lại biết tiếng Nhật, có kinh nghiệm đấu tranh chống Nhật, càng phù hợp
với nhiệm vụ chống Nhật trước mắt của Liên Xô.
Vera Vasilieva bèn xin ý kiến Cục Phương Đông, lên kế hoạch
giáo dục 5 năm đào tạo Hồ Tập Chương thay thế cho Nguyễn Ái Quốc. Việc làm của Vera
Vasilieva cùng với hồ sơ ghi chép của lịch sử dể lại đã chứng minh, Quốc tế cộng
sản đã bí mật chơi trò "phục sinh" cho người đã chết.
Các tấm ảnh này được lấy trong "Những
năm tháng mất tích của Hồ Chí Minh, 1911-1941", của
Sophie Quinn - Judge ở phần phụ lục. Bên trái là Vera Vasilieva, bên phải là Hồ Chí Minh. Ảnh chụp tại Mạc
Tư Khoa, Liên Xô, năm 1934.
1- Cuối tháng chín năm 1931,
Ban Hồ sơ Quốc tế cộng sản chuyển cho Vera Vasilieva một bản tin
với nội dung: "Sự kiện Nguyễn Ái Quốc bị đuổi ra khỏi Đông Nam Á đã bị cự
tuyệt". Vera Vasilieva vô cùng phấn khởi vội thông báo với các bạn bè, đồng
chí của Nguyễn Ái Quốc về tin này, đồng thời viết ba bản tin bằng tiếng Nga ký
tên Vasilieva.
2 - Mùa thu năm 1932, báo chí cộng sản lần lượt đưa tin
Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao phổi cùng với tin nhóm lưu học sinh Việt Nam
tại Mạc Tư Khoa đã tổ chức tang lễ và Quốc tế cộng sản cử đại biểu đến truy điệu.
(tác giả nhận xét: Chủ nhiệm Ban Việt Nam Vera Vasilieva chắc là sẽ cử một người
không quen biết Nguyễn Ái Quốc đến viếng tang, ít ra bà cũng đã biết việc Nguyễn
Ái Quốc bị bệnh chết).
3 - Mùa hè năm 1934, Hồ Chí Minh từ Thượng Hải đến Mạc
Tư Khoa, Vera Vasilieva, Dmitry Manuilsky và trùm đặc vụ Trung cộng Khang Sinh tạo thành nhóm ba
người điều tra, phán xét Hồ Chí Minh. Do được Vera Vasilieva bảo
vệ, Hồ Chí Minh
thoát khỏi án tử hình nhưng bị giữ lại Mạc Tư Khoa học tập cải
tạo, một mặt vào học trường Đại học Lenin, mặt khác nghiên cứu về vấn đề dân tộc
và chủ nghĩa thực dân thuộc địa.
4 - Tháng ba năm 1935, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam họp tại
Áo Môn thông qua một Báo cáo chính trị dài 32 trang. Hội nghị đã bầu bổ sung 13
ủy viên Trung ương do Lê Hồng Phong làm tổng bí thư gồm 8 đại biểu công nhân, 3
đại biểu trí thức, 1 đại biểu dân tộc thiểu số. (Tác giả nhận xét: Hồ Chí Minh
xếp cuối cùng trong số 13 ủy viên Trung ương tuyệt nhiên không phải Nguyễn Ái
Quốc. Xét về tiểu sử và quá trình hoạt động, thứ bậc của Nguyễn Ái Quốc xếp quá
xa so với Lê Hồng Phong trong danh sách các Ủy viên Trung ương đặt ra một vấn
đề đạo lý. Cho nên phải hiểu người xếp cuối cùng ấy là Hồ Tập Chương, bí danh
P.C.Lin. Bởi vì, lúc ấy, Nguyễn Ái Quốc đã chết, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh
Khai cùng P.C.Lin ở Mạc Tư Khoa tham gia Hội nghị VII Quốc tế cộng
sản. Đưa P.C.Lin vào danh sách Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam hoàn
toàn do Vera Vasilieva chủ trương).
5 -
Tháng tư năm 1935, Đảng Cộng sản Việt Nam gửi Ban bí thư Cục Phương Đông công
khai khiển trách Hồ Chí Minh, yêu cầu không để Hồ Chí Minh tham gia Hội nghị
VII Quốc tế cộng sản. Tổng bí thư Đảng Cộng sản Xiêm La
còn cho biết, trước năm 1930, Hồ Chí Minh không phải là đảng viên cộng sản. Sau khi đọc văn bản kiến
nghị, Vera Vasilieva trả lời Đảng Cộng sản Việt Nam như sau: "Hồ Chí Minh
đã dành ra 2 năm học tập nghiên cứu, không có thời gian làm công việc khác, sau
khi Hội nghị kết thúc, chúng tôi sẽ có kế hoach đặc biệt giao cho ông ta".
Ít lâu sau, Vera Vasilieva gửi một bức thư cho lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung
Quốc nói: "Đối với Nguyễn Ái Quốc, sau hai năm học tập, nhất định sẽ hiểu
được nội dung và mục đích của chương trình đào tạo, vì vậy, không có lý do gì
xử lý kỷ luật ông ta. Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ có kế hoạch đặc biệt sử
dụng".
6 - Cuối năm 1935, Hồ Chí Minh
trở lại trường Đại học Lenin, năm 1936 chuyển sang Đại học Stalin làm giảng
viên bộ môn Đông Nam Á bằng tiếng Việt. Tháng tư năm 1936, một bản báo cáo đã
chỉ rõ, Hồ Chí Minh và Vera Vasilieva hợp tác xây dựng khóa trình giảng dạy bộ
môn Đông Nam Á. Vera Vasilieva nhận xét về vai trò giảng viên của Hồ Chí Minh
như sau: "Được làm việc với ông tôi thật vinh dự. Ông nghiên cứu về thực
trạng xã hội trong nước rất công phu, chỉ có điều chưa được hệ thống lắm. Ông
vốn có nhiều kinh nghiệm hoạt động cách mạng, nhưng cũng có lúc phạm phải sai
lầm như sai lầm của người dân vùng Đông Nam Á. Chúng tôi sẽ
nghiên cứu cải tiến, nâng cao, chắc chắn ông sẽ tiến bộ".
Trước khi kết thúc năm 1936, Vera Vasilieva lên kế hoạch chi
3000 dollars để bồi dưỡng cho 10 học viên Đông Nam Á dự khóa huấn luyện 2
tháng. "Chúng tôi đã quyết định là, có nên cử Hồ Chí Minh đã tốt nghiệp Học viện Mạc
Tư Khoa đến tổ chức và chỉ đạo khóa học này hay không?".
Nhưng ghi chép trên đã được lưu giữ tại Hồ sơ Quốc tế cộng
sản ở Mạc Tư Khoa. Trong "Truyện Hồ Chí Minh" của William J. Duiker và "Những năm tháng mất tích
của Hồ Chí Minh, 1911-1941", của Sophie Quinn - Judge đều đã viết rất rõ
ràng về sự kiện trên. Việc công khai bí danh P.C.Lin là Hồ Chí Minh vào năm
1934, chắc chắn không phải là Nguyễn Ái Quốc. Quốc tế cộng sản
yêu cầu Hồ Tập
Chương lấy bí danh P.C.Lin để tiếp tục nhiệm vụ của Nguyễn Ái Quốc mà chủ nhiệm
đề tài Vera Vasilieva chính là người đạo diễn màn kịch "mượn xác hoàn
hồn", "dời hoa tiếp cây".
Việc học tập và cải tạo của Hồ Chí Minh
Trong
thiên "Ve sầu thoát xác thật giả kiếp người", tôi đã trình bày kỹ:
"Mùa xuân năm 1932, Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao phổi, khoảng giữa
mùa xuân và mùa hè năm 1933, người từ Hạ Môn đến Thượng Hải rồi đi Mạc
Tư Khoa không phải Nguyễn Ái Quốc mà là Hồ Tập Chương". Hồ Tập Chương đến Mạc
Tư Khoa, Vera
Vasilieva, Dmitry Manuilsky, và trùm đặc vụ Trung cộng Khang Sinh, lập thành tổ
đặc biệt ba người điều ra về ông, chỉ cần sai phạm một điểm là bị tuyên án tử
hình. May mà được Vera Vasilieva bảo vệ, Hồ Tập Chương mới thoát nạn. Tuy nhiên sau đó ông phải mất gần 5 năm học tập, cải
tạo để sau này thay thế vai trò Nguyễn Ái Quốc. Trong 5 năm học tập cải tạo
này, nhân vì Nguyễn Ái Quốc và Hồ Tập Chương liên quan đến việc chuyển đổi thân
phận, nên hồ sơ của Quốc tế cộng sản không thể ghi chép rõ ràng. Vì
thế, chí có thể căn cứ vào những tài liệu liên quan, ta mới hiểu được trong 5
năm ấy, Hồ Tập Chương, học tập cải tạo như thế nào.
Trong "Hồ Chí Minh ở Trung Quốc", trang 81, 82, giáo sư
Tưởng Vĩnh Kính có nói đến: "Từ năm 1933 đến mùa thu năm 1938, Hồ Chí Minh
ở Mạc Tư Khoa, bị bắt buộc học tập cải tạo. Thứ trưởng Bộ
Văn hóa Việt Nam Nguyễn Khánh Toàn nhớ lại: 'Lúc ấy, khôngg khí khủng bố bao
trùm, Hồ Chí Minh
muốn gặp gỡ các đảng viên Cộng sản Việt Nam đều phải xin phép nhà đương cục Mạc
Tư Khoa. Nếu trước khi được phép mà tự động gặp nhau thì không được nói chuyện'.
Nguyễn Khánh Toàn kể tiếp: 'Các đồng chí Việt Nam ở Mạc Tư Khoa lúc ấy đều
không biết Hồ Chí
Minh đã đến Liên Xô. Có một nữ bí thư trong "Viện Nghiên cứu các vấn đề
dân tộc và thuộc địa", nhân việc gặp một đồng chí phụ trách "Tổ Việt
Nam" nói chuyện, mới biết tin ấy. Nữ đồng chí phụ trách "Tổ Việt
Nam" này cũng là cán bộ Quốc tế cộng sản. (Tác giả nhận định: đồng chí
nữ bí thư chỉ Nguyễn Thị Minh Khai), xem "Chị Minh Khai", phần 2, mục
13, còn đồng chí nữ cán bộ Quốc tế cộng
sản phụ trách "Tổ Việt Nam", chỉ Vera Vasilieva). Sau mấy năm, tôi gặp Hồ Chí Minh trên
phố, nhưng do nguyên tắc tổ chức cũng không thể nói chuyện với nhau. Mãi mấy
năm sau nữa, chúng tôi mới chính thức được làm quen với ông. Hồ Chí Minh một
mặt học tập tại Học viện Lenin, mặt khác lại làm việc ở
Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa. Học
viện Lenin là trường Đảng huấn luyện cán bộ đảng viên các nước. Hồ Chí Minh khi
ở học viện này dùng bí danh bằng tiếng Nga là "Linov", nhưng tại Viện
Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa thì lại dùng tên "Lin"
lãnh đạo tiểu tổ Việt Nam học tập. Tố chất học sinh Việt Nam rất kém, trình độ
thấp, phần lớn họ đến từ Pháp, có tiền sử thường là đầy tớ hoặc thủy thủ. Hồ
Chí Minh chỉ đạo nhóm này học tập chẳng khác gì dạy học sinh tiểu học. Mùa thu
năm 1934, Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa lại thành lập thêm
một tiểu tổ. Tiểu tổ này do một người mới đến Mạc Tư Khoa là Lê Hồng Phong cùng Nguyễn Thị
Minh Khai và ba đảng viên cộng sản Việt Nam hợp thành. Lê Hồng Phong phụ trách
công tác Đảng, Hồ Chí Minh kiêm nhiệm chỉ đạo học tập. Vì lý do bảo mật, hai tổ
học tập Việt Nam bị cách ly hai địa điểm, không được liên lạc với nhau. Sau Đại
hội đại biểu Quốc tế cộng sản VII, trước mắt Stalin, Hồ Chí Minh hiển nhiên không
có vai trò gì dáng kể. Ông ta chẳng những không phải là Ủy viên chấp hành Quốc
tế cộng sản mà còn mất đi địa vị lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, thậm chí còn bị coi là phần tử
không đáng tin cậy. Bị buộc phải lưu lại Mạc Tư Khoa học tập cải
tạo, Hồ Chí Minh
chẳng những không thực hiện được nguyện vọng của mình mà còn rơi vào hoàn cảnh
bị đối xử lạnh nhạt.
Sau khi Lê Hồng Phong và
Nguyễn Thị Minh Khai lần lượt trở về Việt Nam, Hồ Chí Minh lại theo học
"Ban nghiên cứu lịch sử" thuộc "Viện Nghiên cứu các vấn đề dân
tộc và thuộc địa" một năm. Lúc này, phong trào cách mạng Việt Nam và thế
giới đang sôi sục, Hồ Chí Minh làm sao có thể yên tâm ngồi học tập? Trong "Truyện
Hồ Chí Minh", trang 212, William J. Duiker có dẫn ra hồi ức của một học
sinh là Nguyễn Khai Quyền như sau: "Nguyễn Ái Quốc được chỉ làm giảng viên
của 144 học sinh, văn phòng đặt tại tầng bốn của ngôi nhà thuộc đại lộ
Ulyanovsk Mạc Tư Khoa. Có một số thanh niên trẻ không hài lòng hoặc tỏ ra ngạo
mạn, thường chỉ vì một vài việc lặt vặt mà to tiếng với nhau. Lúc ấy thường là Nguyễn Ái Quốc phải đến hòa
giải". Ngoài ra, ở trang 227 , tác giả cũng nói đến: "Mùa thu năm
1936, tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc sau
khi soạn xong bài giảng, lại từ Học viện Lenin trở về căn phòng nhỏ của minh
trong ngôi nhà thuộc đường phố Bố Lỗ nạp Nhã(3) (布魯納雅街). Học trình gồm triết học, lịch sử và Nga
văn. Thế nhưng, Bí thư thứ nhất Cục Viễn Đông lại giao
cho ông nghiên cứu về vấn đề nông dân, đồng thời phiên dịch 'Tuyên ngôn của Đảng
cộng sản' của Karl Marx và 'Bàn về sự ấu trĩ của phái cực tả' của V.I. Lenin
sang tiếng Việt. Trong niên học 1937-1938, Nguyễn Ái Quốc vừa soạn giáo trình,
vừa làm việc tại văn phòng Bí thư thứ nhất Cục Viễn Đông, lại vừa giảng dạy tại
lớp, chuẩn bị cho công trình nghiên cứu về ruộng đất Đông Nam Á".
Sophie Quinn - Judge trong
"Những năm tháng mất tích của Hồ Chí Minh, 1911-1941", trang 217 có
nói đến: "Cuối năm 1935, Hồ Chí Minh trở lại Học viện Lenin, năm 1936
chuyển đến Học viện Stalin phụ trách giảng dạy bộ môn Đông
Nam Á bằng tiếng Việt. Tháng tư năm 1936, một bản báo cáo chỉ rõ Hồ Chí Minh và Vera Vasilieva
hợp tác xây dựng khóa trình giảng dạy bộ môn Đông Nam Á.
Vera Vasilieva
lên kế hoạch chi 3000 dollars để bồi dưỡng cho 10 học viên Đông Nam
Á dự khóa huấn luyện 2 tháng. "Chúng tôi đã quyết định là, có nên cử Hồ Chí Minh đã tốt nghiệp Học viện Mạc
Tư Khoa đến tổ chức và chỉ đạo khóa học này hay không?". Năm 1937, Học viện Stalin sắp
xếp lại tổ chức, đưa những học sinh nước ngoài về bộ môn " Nghiên cứu các
vấn đề dân tộc và thuộc địa". Hồ Chí Minh thuộc hệ Lịch sử (kỳ thứ nhất),
vừa là giảng viên, vừa là học sinh, tuy nhiên không có biểu hiện gì là nhiệt
tình trong học tập. Thành tích của ông ta đối với các môn "Chủ nghĩa duy
vật biện chứng", "Lịch sử cổ đại" cùng với "Lịch sử trung
đại" đều thuộc loại trung bình, chỉ có "Lịch sử hiện đại" là
xuất sắc. Với tư cách giảng viên, ông chỉ dùng Việt văn để giảng khóa trình
"Nghiên cứu Đông Nam Á".
Trong tác phẩm "Chị Minh Khai", tác giả Nguyệt Tú
đã viết ở trang 73: "Đồng chí Nguyễn Ái Quốc dùng 'Linov' làm bí danh tại
'Viện nghiên cứu
các vấn đề dân tộc và thuộc địa'. Được sự ủy nhệm của Viện, đồng chí đến Đại
học Phương Đông giảng cho học sinh Việt Nam về lịch sử và tổ chức của Đảng Cộng
sản Liên Xô. Trong nhận thức của chị Minh Khai, đồng chí Nguyễn Ái Quốc phân
tích về quan điểm tư tưởng cộng sản Lenin vô cùng sâu sắc. Minh Khai và 5 học
sinh Việt Nam ở Đại học Phương Đông cũng biết Nguyễn Ái Quốc đã gửi Cục Phương
Đông Quốc tế cộng sản một lá thư, đề cập đến việc giáo dục
cộng sản còn thiếu phần lý luận của chủ nghĩa Marx - Lenin, khiến cho công tác
tuyên truyền của các đảng gặp nhiều khó khăn, thậm chí còn phạm sai lầm nghiêm
trọng. Vì thế việc xuất bản sách giáo dục lý luận về Đảng Cộng sản dưới nhiều
hình thức là điều cấp thiết phải làm. Đó cũng là điều mà Lê Hồng Phong và Nguyễn
Thị Minh Khai hết sức quan tâm.
Thành quả 5 năm học
tập cải tạo
Như
trên đã nói, từ năm 1933 đến 1938, Hồ Tập Chương học tập cải tạo ở Mạc
Tư Khoa. Quốc tế cộng sản tích cực bồi dưỡng Hồ Tập Chương thành một đại biểu Việt Nam của Quốc
tế cộng sản, tham gia Đảng Cộng sản Việt Nam, hướng đến cách mạng giai cấp vô sản thế giới,
thay thế Nguyễn Ái Quốc mà không một ai hoài nghi. Hơn thế nữa, Vera Vasilieva
đã hết sức đào tạo ông thành một nhà lý luận kiêm thực tiễn cúa Chủ nghĩa Cộng
sản. Trong 5 năm học tập và rèn luyện này, Hồ
Tập Chương, ngoài việc nghiên cứu lý luận của Chủ nghĩa Cộng sản và lịch sử văn
hóa Việt Nam, ông còn tích cực học tập môn tiếng Pháp và tiếng Việt, nắm rõ
từng chi tiết nhỏ nhất trong hồ sơ lý lịch Nguyễn Ái Quốc. Hồ Chí Minh học Việt
văn và Pháp văn đến mức có thể nghe, đọc, viết, nói thành thạo, thậm chí còn
phiên dịch cả "Tuyên ngôn của đảng cộng sản" và "Luận về sự ấu
trĩ của phái cực tả" từ tiếng Anh sang tiếng Việt.
Chỉ cần đọc mấy bài viết ở tập
3 trong "Hồ Chí Minh toàn tập" dưới đây, độc giả sẽ thấy rõ ràng Hồ
Tập Chương đã làm mọi cách để tạo ra dấu vết Nguyễn Ái Quốc:
1 -
Ngày 12 tháng mười năm 1937, Hồ Tập Chương dùng tên Nguyễn Ái Quốc ký vào một
bức thư viết bằng tiếng Pháp gửi một người bạn Pháp là Marcel Gabriel, tỏ lòng
vô cùng thương tiếc về việc Paul Vaillant Couturier từ trần. Tôi đã tra cứu
văn bản thư tín đối ngoại của Hồ Chí Minh (bao hàm cả Nguyễn Ái Quốc) từ năm 1921 đến năm 1937, không
có bất cứ một bức thư nào gửi Paul Vaillant Couturier hoạc Marcel Gabriel. Nguyễn Ái Quốc
cũng không gửi một bức thư nào chia buồn với các đồng chí Việt Nam đã hy sinh
vì tổ quốc. Trái lại, đột nhiên vào thời điểm này lại gửi thư tới Marcel
Gabriel chia buồn về việc Paul Vaillant Couturier qua đời, ắt không tránh
khỏi người ta nghi ngờ cố ý ngụy tạo. Hồ Tập Chương có khá nhiều bài viết với dụng ý hai
mặt, một là bịa đặt P.C.Lin (Hồ Tập Chương) thành Nguyễn Ái Quốc, một là Quốc
tế cộng sản kiểm tra trình độ tiếng Pháp của Hồ Tập Chương. Trong bức thư có một đoạn như
sau:
"Đồng chí Marcel Gabriel thân mến! Chúng
tôi vô cùng đau đớn được tin đồng chí Paul Vaillant Couturier từ trần. Đây là một tổn thất lớn
đối với Đảng Cộng sản Pháp, với giai cấp vô sản Pháp và vô sản các nước thuộc địa
cùng giai cấp vô sản thế giới. Vào lúc được tin đồng chí qua đời, lòng tôi vô
cùng thương cảm. Đối với tôi mà nói, Paul Vaillant Couturier là một người đồng
chí, một người anh em thân thiết. Chúng tôi quen biết nhau không thể nào quên tại
Đại hội Tour. Đến năm 1934, chúng tôi cùng nỗ lực nghiên cứu về 'Chủ nghĩa thực
dân' mà đồng chí đặc biệt quan tâm. Đồng chí là đại biểu tổ chức 'Hội nghị hòa
bình phản chiến' và đã đến Viễn Đông, do vậy, chúng tôi gặp nhau tại Trung Quốc.
Và lần ấy là một cơ hội, dồng chí đã giúp tôi thoát khỏi cảnh khốn khổ.
Mùa hè
năm ấy chúng tôi gặp nhau, cùng thảo luận về vấn đề thực dân, đặc biệt là vấn đề
Đông Dương. Giai cấp vô sản các nước thuộc địa mất đi một chiến sĩ, một người bạn
chân chính. Paul Vaillant Couturier đã mất nhưng sự tận tụy công tác, phong
cách mẫu mực và tinh thần dũng cảm, bất khuất mãi mái sống trong lòng chúng ta.
Học tập phẩm cách cao quý của đồng chí, chúng tôi nguyện kiên trì đấu tranh cho
đến khi sự nghiệp cách mạng thanh công. Ngày 12 tháng mười năm 1937, Nguyễn Ái
Quốc".
Ngày 6 tháng sáu năm 1938, cùng lúc dùng cả tên Nguyễn Ái
Quốc và P.C.Lin ký vào bức thư bằng tiếng Pháp gửi một đồng chí Quốc tế cộng sản:
"Đồng chí thân mến! Hôm này là kỷ niệm 7
năm ngày tôi bị cảnh sát Hương Cảng bắt giữ, nghĩa là dã 8 năm nay tôi không có bất cứ hoạt
động nào. Dịp này viết thư gửi đến đông chí, thỉnh cầu đồng chí giúp đỡ tôi để
có thể thay đổi hoàn cảnh hiện tại. Phân công tôi về địa phương hay giữ tôi ở lại,
mong đồng chí triệt để sử dụng. Đề nghị đồng chí không nên để tôi xa rời tổ chức
Đảng quá lâu. Tôi rất cảm kích nếu đồng chí cho phép được gặp mặt. Mong đồng
chí hãy tiếp kiến một người anh em cộng sản trung thành, tận tụy. Ngày 6 tháng
sau năm 1938, Lin (Nguyễn Ái Quốc).
(Tác giả nhận xét: Bức thư bằng tiếng Pháp gửi một đồng chí
Quốc tế cộng sản chính là gửi cho Vera Vasilieva. William J. Duiker, trong
"Truyện Hồ Chí Minh", trang
228 có viết: "Hồ
Chí Minh thông qua Vera Vasilieva nhờ giúp đỡ mới rời khỏi được Mạc
Tư Khoa).
"Hồ Chí Minh toàn
tập", văn bản chính thức của nhà nước Việt Nam
Bộ "Hồ Chí Minh toàn tập" có
một số bản in màu đẹp, tôi đã dùng bộ sách 12 tập do Nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia in năm 2002 để nghiên cứu. "Hồ Chí Minh toàn tập" gồm
những bài viết và nói bằng tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Việt và Hán văn trong
cuộc đời hoạt động chính trị của ông. Nội dung văn bản ngắn thì chỉ có vài chục
chữ đối với thư chúc mừng, dài thì hàng ngàn vạn chữ đối với các chuyên khảo
như "Binh pháp Tôn Tử", "Chiến tranh du kích" v.v... Trước
tác của Hồ Chí Minh phần lớn là các bài viết đăng báo, tạp chí, ngoài ra còn có
một số lượng không nhỏ thư từ, thơ qua lại giữa bạn bè với nhau. Tôi đã căn cứ
vào thời gian, số bài, đặc trưng ngôn ngữ phân loại, chỉnh lý. Lấy năm 1932 làm
chuẩn để phân định, so sánh những bài
viết trước với bài viết sau, kết quả phát hiện ra hai điểm quan trọng, một là, tiếp tục khẳng định
Nguyễn Ái Quốc đã chết vào năm 1932, và một là, Nguyễn Ái Quốc không thông thạo
Hán văn. Nay, tôi đem những bài viết được đưa vào "Hồ Chí Minh toàn tập",
căn cứ thời gian, sau khi chỉnh lý, kê ra được một bản dưới đây:
Bảng thồng kê các tác phẩm của Hồ Chí Minh
Năm
|
Số bài
|
Ngữ văn
|
Loại hình
|
1919
|
7
|
Tiếng Pháp
|
Chuyên văn 3, thư từ 3,
phỏng vấn 1
|
1920
|
2
|
Tiếng Pháp
|
Chuyên văn 1, bài giảng 1
|
1921
|
14
|
Tiếng Pháp
|
Chuyên văn 12, thư từ 1, báo
cáo 1
|
1922
|
35
|
Tiếng Pháp
|
Chuyên văn 33, thư từ 2
|
1923
|
35
|
Tiếng Pháp
|
Chuyên văn 30, bài giảng 2,
thư từ 2, phỏng vấn 1
|
1924
|
62
|
Pháp 13, Anh 1, Nga 8
|
Chuyên văn 44, thư từ 12,
bài giảng 5, phỏng vấn 1
|
1925
|
24
|
Pháp 13, Anh 9, Nga 2
|
Chuyên văn 13, thư từ 8, bài
giảng 2, chuyên khảo 1 (100 trang)
|
1926
|
19
|
Pháp 10, Anh 4, Nga 2, Trung
1
|
Chuyên văn 10, thư từ 8, bài
giảng 1
|
1927
|
11
|
Pháp 8, Anh 3
|
Chuyên văn 9, thư từ 2, sách
1 "Đường kách mệnh", 52 trang
|
1928
|
12
|
Pháp 11, Anh 1
|
Chuyên văn 7, thư từ 5
|
1929
|
0
|
Nguyễn Ái Quốc ở Xiêm La
chữa bệnh
|
|
1930
|
18
|
Pháp 5, Anh 11, Việt 1, Nga
1
|
Chuyên văn 6, thư từ 12,
trong đó có 4 bài không rõ ngôn ngữ nào, tạm xếp vào tiếng Anh
|
1931
|
9
|
Pháp 3, Anh 5, Việt 1
|
Chuyên văn 3, thư từ 6
|
1932
|
0
|
Nguyễn Ái Quốc bị bắt ở
Hương Cảng sau đó trốn khỏi Hương Cảng
|
|
1933
|
0
|
Hồ Chí Minh lưu vong ở Trung
Quốc, Việt Nam và Xiêm La
|
|
1934
|
0
|
Thời gian Hồ Chí Minh lưu
vong ở Mạc Tư Khoa
|
|
1935
|
Tiếng Pháp 1
|
"Báo cáo"(thời kỳ
Hồ Chí Minh lưu vong ở Mạc Tư Khoa)
|
|
1936
|
0
|
Thời kỳ Hồ Chí Minh lưu vong
ở Mạc Tư Khoa
|
|
1937
|
1
|
Tiếng Pháp
|
Thời kỳ Hồ Chí Minh lưu vong
ở Mạc Tư Khoa (thư)
|
1938
|
2
|
Tiếng Pháp
|
Thư và báo cáo (8 trang)
|
1939
|
11
|
Pháp 3, Trung 8
|
Chuyên văn 3, thư từ 8 (Thời
kỳ Hồ Chí Minh ở Mạc Tư Khoa)
|
1940
|
12
|
Tiếng Trung 12
|
Chuyên văn 11, thư từ1 (Viết
từ TQ gửi về VN)
|
1941
|
12
|
Trung 3, Việt 9
|
Chuyên văn 10, thơ 2
|
1942
|
19
|
Trung 5, Việt 14
|
Chuyên văn , thơ ( Trung 2,
Việt 8), giảng nghĩa: "Du kích chiến", Thơ: "Nhật ký trong
tù" 134 bài
|
1943
|
2
|
Việt văn 2
|
Chuyên văn 1, thư từ 1
|
1944
|
8
|
Trung 2, Việt 6
|
Chuyên văn 3, thư 4 , sách
"Phương pháp chiến tranh du kích", 13 chương
|
1945
|
86
|
Anh 8, Trung 5, Việt 73
|
Sách "Binh pháp Tôn
Tử" 13 chương, "Thư Tổng khởi nghĩa", "Tuyên ngôn độc
lập", chuyên văn, thư từ, bài nói chuyện
|
1946
|
175
|
Tiếng Việt 175
|
Thư từ, chuyên khảo, phỏng
vấn, điện báo (đăng trên báo chí Việt Nam)
|
1947
|
164
|
Việt163, Pháp1
|
Thư từ, chuyên khảo, phỏng
vấn, điện báo (đăng trên báo chí Việt Nam)
|
1948
|
108
|
TiếngViệt104, tiếng
Trung 4
|
Thư từ, chuyên khảo, phỏng
vấn, điện báo, thơ chữ Hán 4 (đăng trên báo chí Việt Nam)
|
1949
|
114
|
Tiếng Việt 114
|
Thư từ, chuyên khảo, phỏng
vấn, điện báo (đăng trên báo chí Việt Nam)
|
1950
|
81
|
Việt 79, Trung 2
|
Thư từ, chuyên khảo, phỏng
vấn, điện báo, thơ chữ Hán 2 (đăng trên báo chí Việt Nam)
|
1951
|
120
|
Tiếng Việt 120
|
Thư từ, chuyên khảo, phỏng
vấn, điện báo (đăng trên báo chí Việt Nam)
|
1952
|
116
|
Tiếng Việt 116
|
Thư từ, chuyên khảo, phỏng
vấn, điện báo (đăng trên báo chí Việt Nam)
|
1953
|
79
|
Tiếng Việt 79
|
Thư từ, chuyên khảo, phỏng
vấn, điện báo (đăng trên báo chí Việt Nam)
|
1954
|
96
|
Tiếng Việt 96
|
Thư từ, chuyên khảo, phỏng
vấn, điện báo (đăng trên báo chí Việt Nam)
|
1955
|
73
|
Tiếng Việt 73
|
Thư từ, chuyên khảo, phỏng
vấn, điện báo (đăng trên báo chí Việt Nam)
|
1956
|
86
|
Tiếng Việt 86
|
Thư từ, chuyên khảo, phỏng
vấn, điện báo (đăng trên báo chí Việt Nam)
|
1957
|
99
|
Tiếng Việt 99
|
Thư từ, chuyên khảo, phỏng
vấn, điện báo (đăng trên báo chí Việt Nam)
|
1958
|
98
|
Tiếng Việt 98
|
Thư từ, chuyên khảo, phỏng
vấn, điện báo (đăng trên báo chí Việt Nam)
|
1959
|
150
|
Tiếng Việt 150
|
Thư từ, chuyên khảo, phỏng
vấn, điện báo (đăng trên báo chí Việt Nam)
|
1960
|
109
|
Tiếng Việt 109
|
Thư từ, chuyên khảo, phỏng
vấn, điện báo (đăng trên báo chí Việt Nam)
|
1961
|
85
|
Tiếng Việt 85
|
Thư từ, chuyên khảo, phỏng
vấn, điện báo (đăng trên báo chí Việt Nam)
|
1962
|
78
|
Tiếng Việt 78
|
Thư từ, chuyên khảo, phỏng
vấn, điện báo (đăng trên báo chí Việt Nam)
|
1963
|
71
|
Tiếng Việt 71
|
Thư từ, chuyên khảo, phỏng
vấn, điện báo (đăng trên báo chí Việt Nam)
|
1964
|
64
|
Tiếng Việt 64
|
Thư từ, chuyên khảo, phỏng
vấn, điện báo (đăng trên báo chí Việt Nam)
|
1965
|
86
|
Tiếng Việt 86
|
Thư từ, chuyên khảo, phỏng
vấn, điện báo (đăng trên báo chí Việt Nam)
|
1966
|
83
|
Tiếng Việt 83
|
Thư từ, chuyên khảo, phỏng
vấn, điện báo (đăng trên báo chí Việt Nam)
|
1967
|
65
|
Tiếng Việt 65
|
Thư từ, chuyên khảo, phỏng
vấn, điện báo (đăng trên báo chí Việt Nam)
|
1968
|
60
|
Tiếng Việt 60
|
Thư từ, chuyên khảo, phỏng
vấn, điện báo (đăng trên báo chí Việt Nam)
|
1969
|
36
|
Tiếng Việt 36
|
Thư từ, chuyên khảo, phỏng
vấn, điện báo (đăng trên báo chí Việt Nam)
|
Thuyết
minh:
*
Ngữ văn: Ghi chú Tiếng
Pháp, tiếng Anh, tiếng Trung, tiếng Nga và tiếng Việt là căn cứ vào "Hồ
Chí Minh toàn tập", phần cuối cùng có chú thích "Tư liệu tiếng
Pháp", "tư liệu tiếng Anh", "tư liệu tiếng Trung". Tác
giả dựa vào nơi công bố như báo, tạp chí, nhà xuất bản, ví dụ: Hà Nội, báo
"Độc lập", Nhà xuất bản Sự thật, xếp vào mục "Tư liệu tiếng
Việt".
* Từ năm 1919 đến 1923, bài
được công bố trên các báo, tạp chí, nói chuyện, bài giảng, thư từ, bên dưới đều
ghi chú: "Tư liệu đánh máy tiếng Pháp" hoặc công bố trên báo, tạp chí
tiếng Pháp.
* Năm 1924 có 8 bài công bố
trên mục "chuyên luận" các tạp chí tiếng Nga có một bản viết tay bằng
tiếng Anh, còn lại đều ghi là "Tư liệu đánh máy tiếng Pháp" hoặc
"Đã công bố trên báo và tạp chí tiếng Pháp".
* Năm 1925, có một thiên gần
trăm trang, chia thành 12 chương tố cáo và lên án chế độ thực dân Pháp. Từ năm
1925 đến 1927, Nguyễn Ái Quốc lấy bí danh là Vương Đạt Nhân, thời kỳ ở Quảng
Châu đã xuất bản tờ báo "Thanh niên" gửi về Việt Nam truyên truyền,
ghi chú là chuyển dịch từ bản tiếng Pháp.
* Đầu năm 1926, có 2 thiên
được ghi chú dẫn từ bản thảo của Viện Bảo tàng Cách mạng Quảng Châu, trong đó,
một thiên là bức thư gửi Đoàn chủ tịch Đại hội đại biểu toàn quốc Quốc dân đảng
Trung Quốc, chưa xác định được là tư liệu bằng ngôn ngữ nào. Ngoài ra, một
thiên bản thảo diễn giảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc Quốc dân đảng Trung
Quốc lần thứ II có ghi chú: "Tư liệu chữ Hán. Bộ "Hồ Chí MInh toàn
tập" phần trước năm 1932 này, chỉ duy nhất có 1 tư liệu chữ Hán, tuy nhiên
không biết có phải Nguyễn Ái Quốc viết hay không., tôi rât nghi ngờ.
Cũng trước đó khong lâu,
Nguyễn Ái Quốc còn phải học Trung văn từ Đặng Dĩnh Siêu, vậy mà trong Đại hội lại
tự mình diễn giảng thì chắc là nói bằng tiếng Pháp thông qua tư liệu Trung cộng
do Lý Phú Xuân phiên dịch.
Khoảng tháng mười một đến
tháng mười hai năm 1926, có 8 bài với tiêu đề "Sự biến Các Thung của Trung
Quốc", miêu tả tình hình Quốc Cộng hợp tác
* Năm 1927, ở Quảng Châu xuất
hiện cuốn sách "Đường kách mệnh" 52 trang, chia thành 16 tiêu đề,
theo tư cách của nhà cách mạng bàn đến việc hợp tác quốc tế. Phần ghi chú không
thấy nói đến tư liệu được viết bằng ngôn ngữ nào, nhưng theo nội dung là gửi về
để tuyên truyền cách mạng ở Việt Nam. Tác giả nghiên cứu , suy đoán thấy văn
chương của cuốn sách thuộc dòng báo
"Thanh niên", vốn được viết bằng tiếng Pháp.
* Năm 1929, Nguyễn Ái Quốc
không còn lưu lại bài viết nào. Ngô Đức Trị nói, sau khi nhận được báo cáo của
Nguyễn Ái Quốc : "Ông ta đi Xiêm La già một năm, không làm được bất cứ
việc gì". Từ đó ta có thể thấy, trong năm ấy Nguyễn Ái Quốc không có một
liên lạc nào với Quốc tế cộng sản, chỉ đến khi "Thanh niên
đồng chí hội" cử người đến Xiêm La yêu cầu ông ta đến Hương Cảng hòa giải việc tranh
chấp giữa các đảng phái, đầu năm 1930, Nguyễn Ái Quốc mới về Quảng Châu để sang
Hương Cảng.
* Đầu
năm 1930, viết 5 bài: "Chính cương của đảng", "Sách lược của
đảng", "Chương trình của đảng", "Điều lệ Đảng Cộng sản Việt
Nam", "Lời kêu gọi". Những bài này đều không ký tên, cũng không
ghi rõ nguồn gốc văn bản, rất chung chung. (Dẫn từ "Văn kiện của
Đảng"). Tác giả xác định, 5 bài viết trên, tương ứng với thời kỳ Hồ Tập
Chương gửi báo cáo lên Quốc tế cộng sản. Đặc biệt bài "Lời kêu gọi",
phần cuối có ghi tên Nguyễn Ái Quốc, bút tích bằng tiếng Anh, hình như không
phù hợp với phong cách văn chương Nguyễn Ái Quốc. Thông thường, lúc liên lạc
hay viết báo cáo Nguyễn Ái Quốc mới sử dụng tiếng Anh, còn phần lớn đều viết bằng
tiếng Pháp. Rất khó có chuyện, viết bài kêu gọi đồng bào trong nước đấu tranh
chống thực dân, đế quốc lại dùng thứ tiếng nước ngoài trong khi hầu hết nhân
dân đều không biết chữ. Lại nói, "Lời kêu gọi"có một đoạn cường điệu,
chứng tỏ "lạy ông tôi ở bụi này" (nguyên văn "thử địa vô ngân
tam bách lượng"): "Tôi là Nguyễn Ái Quốc, trân trọng ngẩng cao đầu
nói với đồng bào thuộc các thành phần công nhân, nông dân, binh sĩ, thanh niên,
học sinh bị áp bức! các anh chị em! các đồng chí!"...là thứ ngôn ngữ chưa
bao giờ Nguyễn Ái Quốc sử dụng, đặc biệt là đoạn mở đầu: "Chấp hành chỉ thị
của Quốc tế cộng sản, giải quyết vấn đề cách mạng ở nước ta, tôi đã hoàn thành
nhiệm vụ, đồng thời còn nhận trách nhiệm chuyển sang cho anh chị em, cho các đồng
chí". Cường điệu "chấp hành chỉ thị", "giải quyết vấn đề
cách mạng ở nước ta" v.v...đều rất không phù hợp với cách sử dụng ngôn ngữ
của Nguyễn Ái Quốc.
Lại nữa, ngày 28 tháng hai năm 1930, Nguyễn Ái Quốc gửi một
bức thư cho các đồng chí Liên Xô: "Người An Nam, đặc biệt là người lao động
luôn hướng về nước Nga cách mạng. Phàm là báo chí có liên quan đều bị chế độ hà
khắc của thực dân Pháp cấm đoán, huống hồ, đại bộ phận công nhân và nông dân An
nam mù chữ, cho dù có biết chữ, thì người An nam chỉ đọc được chữ An Nam mà
thôi. Chúng ta có nhiệm vụ là giới thiệu cho mọi người hiểu biết về tổ quốc và
giai cấp của nhà nước Cộng sản này. Để hoàn thành nhiệm vụ, chúng ta nên có ké
hoạch dùng chữ An Nam viết một cuốn sách...". Điều đó chứng tỏ khả năng vận
dụng ngôn ngữ của Nguyễn Ái Quốc khác hẳn với ngôn ngữ của Hồ Chí Minh thay thế ông hoạt
động sau này. Những bài viết từ năm 1930 trở về sau còn lưu lại, phần lớn là do
Hồ Tập Chương chấp bút. Phàm là những ghi chép bằng tiếng Anh, thư gửi Quốc
tế cộng sản đều không phải do Nguyễn Ái Quốc viết. Điều này rất cần sự nỗ lực
nghiên cứu, giám định, phân tích của các nhà chuyên môn có hứng thú với chuyên
đề Hồ Chí Minh.
* Từ đầu năm 1931 đến 24 tháng
tư năm 1931 ngừng viết, có 9 bài. Thời kỳ Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh cùng
xuất hiện, cùng hoạt động với nhau, trong đó, phần lớn các bản báo cáo đều do
Hồ Tập Chương chấp bút. Có một bức thư phần cuối chỉ ghi năm mà không có ngày
tháng bằng tiếng Anh gửi Quốc tế cộng sản, theo phán đoán cũng là do Hồ Tập Chương viết.
* Từ
năm 1932 đến năm 1934, không có bất cứ bài viết nào lưu lại. Tháng sáu năm
1931, Nguyễn Ái Quốc bị bắt giam, năm 1932, mùa thu, chết vì bệnh lao phổi,
trong khi đó, Hồ Tập Chương bị bắt giam từ tháng bảy năm 1931, sau đó thoát
được, đến Mạc Tư Khoa vào khoảng giữa mùa xuân đến mùa hè.
*
Năm 1935, chỉ có 1 bức thư còn lưu tại Ủy viên hội Phương Đông Quốc tế cộng sản,
ký tên P.C.Lin bằng tiếng Pháp. Nội dung là, "P.C.Lin" hoặc
"Lin", từ những kinh nghiệm hoạt động có được ở Hoa Nam Trung Quốc,
Việt Nam, Xiêm La và Mã Lai Á, gửi kiến nghị đến các đồng chí Việt Nam. Cái người
có bí danh "Lin" này hẳn là mượn bí danh của Nguyễn Ái Quốc thời kỳ
hoạt động 1930, 1931, gửi báo cáo lên Quốc tế cộng sản. Nói cách khác, đây
chính là Hồ Tập
Chương, lấy "Lin" làm bí danh. Các bản báo cáo bằng tiếng Pháp chính
là kết quả nghiệm thu của Quốc tế cộng sản trong việc hoán đổi Hồ Tập Chương thành Nguyễn Ái
Quốc
* Năm
1936 đến 1938, chỉ có 3 bài viết. Năm 1936 không có bài viết nào. Năm 1937, bức
thư gửi Marcel Gabriel tuyệt đối không phải Nguyễn Ái Quốc. Trong mục "5
năm học tập cải tạo", tôi đã phân tích kỹ, xin được lướt qua. Năm 1938 có
2 bức thư, một viết tại Mạc Tư Khoa, rất ngắn bằng tiếng Pháp, nội dung báo cáo về thành
quả nghiên cứu cá nhân. Chỉ có điều, bức thư này biểu thị những nét rất khác nhau
là, P.C.Lin và Nguyễn Ái Quốc cùng ký tên. Thời gian vào ngày 6 tháng sáu lại
càng phù hợp, trừ việc cùng với Nguyễn Ái Quốc bị bắt ở Hương Cảng một ngày ra,
lại còn khớp cả với thời gian P.C.Lin chuẩn bị rời khỏi Mạc
Tư Khoa, cũng là ngày thành lập "Mặt trận Việt Minh, ngày viết thư gửi đồng
bào toàn quốc mà Nguyễn Ái Quốc ký tên. Có thể nói, ngày 6 tháng sáu là một
ngày có quá nhiều sự kiện đáng cho ta phải suy nghĩ. Bức thư thứ hai viết năm
1938 bằng chữ Hán vào tháng mười hai, ký tên P.C.Lin tại Quảng Tây, Trung Quốc
"Người Nhật Bản muốn khai thác Trung Quốc như thế nào?" gửi đến Việt
Nam, (đăng tại tạp chí "Tiếng nói của chúng ta"), nội dung là một
thiên bình luận dài "Người Nhật Bản xâm lược Trung Quốc tàn bạo như thé
nào?" và "Tân tứ quân" của Đảng Cộng sản Trung Quốc", "Bát lộ quân anh
dũng chống Nhật". Vào lúc ấy, P.C.Lin tự xưng là người Trung Quốc.
Năm
1939, có 11 bài viết đều ký tên P.C.Lin. Trừ 3 bài bằng tiếng Pháp gửi Mạc
Tư Khoa, 8 bài còn lại đều bằng Trung văn theo hình thức "Thư gửi từ Trung
Quốc" đến Việt Nam đăng trên tạp chí "Tiếng nói của chúng ta" và
tập san tiếng Việt "Dân chúng". Bảy bài viết, trừ 2 bài tố cáo hành
vi xâm lược Trung Quốc tàn bạo của Nhật Bản, 5 bài còn lại thì, một là báo cáo
tình hình kháng Nhật của nhân dân Trung Quốc, một bài kiểm điểm về hoạt động
quân sự của Việt Nam hai năm gần đây, ba bài giới thiệu về Chủ nghĩa Trosky và
phái Troskism hoạt động tại Trung Quốc. P.C.Lin trong thời gian này, ngoài việc
tự xưng là người Trung Quốc ra, còn lại đều viết bằng tiếng Việt, vậy mà đột
nhiên lại biến thành người thông thạo tiếng Nhật. Tám bài trong trong "Thư
gửi từ Trung Quốc" và các bài viết trong năm 1940 đăng trên "Cứu vong
nhật báo" bao gồm 13 chuyên đề sẽ dược phân tích kỹ ở mục "Hồ Chí Minh ở Trung
Quốc".
* Năm
1940 có 11 bài, trong dó, 1 bài gửi Quốc tế cộng sản Mạc Tư
Khoa, không ký tên, sử dụng lối văn tả rất đặc biệt. Nội dung báo cáo về tình
hình Việt Nam hiện tại như hoàn cảnh địa lý, tài nguyên, dân tộc, kinh tế, quốc
phòng, các đảng phái chính trị, trong đó không ít tư liệu được dẫn từ báo chí
Nhật Bản. Ngoài 11 bài chuyên đề dùng bút danh "Bình Xuyên" viết bằng
Trung văn đăng tải trên "Cứu vong nhật báo", thể hiện quan điểm về thời
cuộc và Chiến tranh thế giới thứ hai, đặc biệt thái độ phản đối kịch liệt đối với
Phát xít Nhật và đế quốc Pháp xâm lược. Phần lớn văn chương đều sử dụng thủ
pháp cường điệu đề cao mối quan hệ đồng minh Trung -Việt trong cuộc kháng chiến
chống Pháp.
* Năm 1941, các bài viết đều có những nét đặc biệt. Đó là 2
bài thơ ngắn, một đề ngày 6 tháng sáu năm 1941, ký tên Nguyễn Ái Quốc, dưới
hình thức thư từ nước ngoài "gửi toàn thể đồng bào". Tiếp đó là 9 bài
bằng tiếng Việt đăng trên báo "Việt Nam độc lập", ngoài ra, chưa thấy các báo chí Việt Nam lúc ấy đăng
các bài bằng tiếng Việt của ông.
* Năm 1942, các bài viết đều không ký tên, hầu hết đều đăng
tải trên "Việt Nam độc lập", trong đó 2 bài thơ ngắn, 2 bài dưới dạng
bút ký, 2 bài giải nghĩa về chiến tranh du kích. Một điều đặc biệt chú ý là,
danh xưng Hồ Chí
Minh bắt đầu được sử dụng từ thời kỳ này, và từ đó về sau, không dùng bí danh
nữa. Cũng trong năm này, Hồ Chí Minh bị Quốc dân đảng bắt giữ, trong tù, ông đã
viết 134 bài thơ chữ Hán lấy tên là "Nhật ký trong tù".
* Năm
1943, Hồ Chí Minh bị giam trong ngục, trừ việc viết "Nhật ký trong
tù", còn có bài thơ ngắn gửi bạn bè, một
bài giới thiệu về
nước Syria làm thế nào để thoát khỏi bàn tay ma quỷ của chủ nghĩa đế quốc, một bài là "Máu và nước mắt trong giữ
gìn tổ quốc độc lập" và bài "Đồng chí, đồng bào Việt Nam hãy cố gắng".
Các bài này đều đăng trên tờ "Đồng minh báo" của "Việt Nam Cách
mạng đồng minh hội" tại Liễu Châu, Trung Quốc, bút danh Hồ Chí Minh.
* Năm
1944 có 2 bài được ghi chú là Hán văn, bút danh Hồ Chí Minh đăng ở mục
"chuyên đề" của "Đồng minh báo" Liễu Châu. Ngoài ra
còn có bài "Phương pháp chiến tranh du kích" lấy bút danh "Việt
Minh". Bài "Phương pháp chiến tranh du kích" này, tương ứng vào
thời kỳ năm 1939, Hồ
Chí Minh lúc ấy ở Hành Sơn, Hồ Nam, tham gia khóa huấn luyện cán bộ du kích,
giải nghĩa cải biên thành.
* Năm
1945, trước tháng tám, Việt Nam gọi là "Cách mạng tháng Tám thành
công", Việt Minh suy tôn Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Chính phủ lâm thời. Ngày
2 tháng chín năm 1945, tại Ba Đình Hà Nội, ông đọc "Tuyên ngôn độc
lập", từ đó ba chữ "Hồ Chí Minh" nổi tiếng trên toàn thế giới.
* Từ
năm 1946 đến 1969, trong "Hồ Chí Minh toàn tập" đã đưa vào hầu hết
các loại hình tác phẩm của ông, gồm thư tín, chuyên đề, nói chuyện, điện báo
v.v... đều ký tên Hồ Chí Minh, từng đăng tải trên các báo, tạp chí hoặc công bố
trên Đài phát thanh rất rõ ràng. Trong số này, tuy đôi lúc có chen vào một, hai
bài thơ chữ Hán hoặc thư từ bằng tiếng Pháp, tiếng Anh nhưng chủ yếu vẫn là các
tư liệu tiếng Việt.
Tổng
hợp các tác phẩm của Hồ Chí Minh trong "Hồ Chí Minh toàn tập", có thể
quy về một số đặc điểm sau:
1- Từ
năm 1919 đến 1923, thời kỳ Nguyễn Ái Quốc ở Pháp, các bài viết đều dùng tiếng
Pháp.
2 - Từ năm 1924 đến 1927, cho dù Nguyễn Ái Quốc
đã đến Quảng Châu , chủ yếu vẫn sử dụng tiếng Pháp để viết bài. Tuy nhiên, cũng
có một bài viết bằng Trung văn, hiện lưu giữ ở Viện bảo tàng Cách mạng Quảng
Châu", có điều không chắc đấy là bút tích của Nguyễn Ái Quốc. Càng kỳ lạ
hơn lá, bài viết gửi về Việt Nam đăng trên tờ báo "Thanh niên" hoặc
cuốn "Đường kách mệnh", Nguyễn Ái Quốc đều dùng tiếng Pháp chứ không
dùng tiếng Việt.
3 -Từ năm 1929 đến 1931, những
bài viết còn lại rất ít, hầu hết đều bằng tiếng Pháp và tiếng Anh. Thời kỳ
Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh (Hồ Tập Chương) cùng ở Thượng Hải, Hương Cảng,
Singapore, Xiêm La hoạt động, mà thời gian này Nguyễn Ái Quốc bị bệnh phổi
nghiêm trọng, nên hầu hết các báo cáo, thư từ gửi Quốc
tế cộng sản đều do Hồ
Tập Chương viết.
4 - Từ năm 1932 đến năm 1934,
không còn bất kỳ bài viết nào lưu lại. Mùa thu năm 1932, báo chí cộng sản đã
đưa tin Nguyễn Ái Quốc chết vì bệnh lao phổi. Tin này là chính xác, mà Hồ Tập
Chương lúc ấy, cuộc sống vô cùng khó khăn.
5 - Từ năm 1935 đến 1938, thời
kỳ này Hồ Chí Minh ở Mạc Tư Khoa, hầu như không để lại bất cứ bài viết
nào. Người lúc ấy mang bí danh P. C.Lin có thể xác định được chính là Hồ Tập Chương. Một số bút
tích, thư tín, chứng tỏ lúc ấy Hồ Tập Chương đã biến đổi thân phận, tiếp tục
vai trò hoạt động của Nguyễn Ái Quốc.
6 - Từ năm 1938 đến năm 1945,
đột nhiên dùng Trung văn để viết những lài trường thiên, chuyên đề, sáng tác
thơ, viết thư pháp...càng cho thấy P.C.Lin chính là Hồ Tập Chương, rất uyên bác
văn hóa Hán, có khả năng phân tích được tình hình quân đội Nhật qua các tư liệu
báo chí.
Đại hội đại biểu Quốc tế cộng sản lần thứ VII
Ngày 25 tháng bảy năm 1935, Hội nghị VII Quốc tế cộng sản
khai mạc tại Mạc Tư Khoa, khai trừ Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Quốc tế cộng sản
Lev Kamenev và cựu Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Quốc tế cộng sản Grigori
Zinoviev ra khỏi đảng, đồng thời tiến hành xét xử, cuối cùng cả hai đều bị tử
hình.
Mục tiêu hàng đầu của Hội nghị VII là vạch ra sách lược mới
cho phong trào cộng sản thế giới để đối phó mới những nguy cơ của các thế lực mới
đang trỗi dậy. Trước khi tiến hành hội nghị, tình hình thế giới đối với Liên Xô
vô cùng bất lợi. Quân phiệt Nhật Bản nêu cao chính sách "diệt cộng"
đã đem quân đánh chiếm vùng Đông Bắc Trung Quốc, với ý đồ thâm hiểm xâm lăng
toàn bộ lục địa Trung Hoa, thực hiện cái gọi là "Chính sách Đại Đông
Á". Chính phủ Adolf Hitler ở Đức xưng bá chủ châu Âu, lớn tiếng hô hào
thành lập "Đế quốc thứ ba" chống lại chủ nghĩa Marx- Engels. Điện
Kremli đã nhìn thấy đảng Nazi của nước Đức phát xít mỗi ngày một mạnh, cùng với
quân đội Nhật Bản hiếu chiến, lúc nào cũng giương cao ngọn cờ chống cộng. Liên
Xô đang đứng trước nguy cơ đất nước bị xâm chiếm, Stalin quyết định hủy bỏ sách
lược của phái cực tả đã được thông qua tại
Hội nghị VI Quốc tế cộng sản năm 1928. Bí thư thứ nhất Quốc tế cộng sản Grigori
Dimitrov chủ trì hội nghị đề xuất cương lĩnh "Thống nhất chiến tuyến"
để các đại biểu thông qua. Quốc tế cộng sản chuyến sang sách lược toàn thế giới
phản đối chủ nghĩa phát xít, cùng với lực lượng dân chủ, tổ chức thành liên
minh thống nhất chống chủ nghĩa phát xít và quân phiệt Nhật Bản.
Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai cùng Hoàng Văn Nọn là 3
đại biểu chính thức của Đảng Cộng sản Đông Dương tham gia Hội nghị VII Quốc tế
cộng sản. Ban tổ chức chỉ đạo, mỗi đại biểu Việt Nam đều được đọc tham luận.
Nguyễn Thị Minh Khai phát biểu về "Người phụ nữ châu Á bị chế dộ thực dân
áp bức". Hoàng Văn Nọn nói về "Phong trào đấu tranh của nhân dân Việt
Nam với chủ nghĩa thực dân Pháp", còn trưởng đoàn Lê Hồng Phong có bài
"Những thiếu sót của Đảng Cộng sản Đông Dương những năm qua và nhiệm vụ cấp
bách trước mắt". Sau khi Hội nghi bế mạc, Lê Hồng Phong được bầu là Ủy
viên thường vụ Ban chấp hành Quốc tế cộng sản.
Hồ Chí
Minh lấy "P.C.Lin" hoặc "Lý Nặc Phu" làm bí danh, lúc ấy là
Bí thư Cục Viễn Đông, đến hội nghị với tư các quan sát viên,
không có quyền phát biểu, chỉ giữ vai trò im lặng, rất không phù hợp với tác
phong của một cán bộ từng đảm nhiệm chức vụ phát ngôn viên dày dạn kinh nghiệm
của Quốc tế cộng sản Đông Nam Á. Việc Lê Hồng Phong trúng cử vào Ban chấp hành
Quốc tế cộng sản, trở thành lãnh tụ mới của Đảng Cộng sản Đông Dương, cùng với
tiếng vang của những bản tham luận tại Hội nghi VII, chắc chắn sẽ tác động đến
tâm lý Hồ Chí
Minh, một người gần như bị gạt ra ngoài lề mọi sự kiện chính trị lúc ấy.
Hội
nghi kết thúc không lâu, Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai làm lễ thành hôn tại Mạc
Tư Khoa.
Từ nghị quyết Hội nghị VII, để hóa giải nguy cơ trước mắt,
Quốc tế cộng sản hiệu triệu giai cấp vô sản thế giới, chuyển sang liên minh với
các lực lượng dân chủ, hợp thành trận tuyến rộng lớn, chống lại chủ nghĩa phát
xít ngày càng bành trướng. Cử hành lễ cưới xong, Lê Hồng Phong về Thượng Hải trước, đến năm 1936
thì triệu tập Hội nghị trung ương Đảng Cộng sản Đông
Dương truyền đạt những nhiệm vụ chủ yếu mà Hội nghị VII Quốc tế cộng sản đã đề
ra, đồng thời giải thích sự thay đổi chính sách của Mạc Tư Khoa.
Tôi
đã nghiên cứu, thẩm định, Lê Hồng Phong trở về Thượng Hải với một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng
là, truyền đạt cho Đảng Cộng sản Trung Quốc như sau: "Đảng viên cộng sản
Hồ Tập Chương, trong 2 năm đã ra sức học tập, rèn luyện đạt được thành tịch
tốt, sau này sẽ thay thế vai trò Nguyễn Ái Quốc, vì hai đảng anh em ra sức phấn
đấu, tuy nhiên, thân phận của Hồ Tập Chương phải được tuyệt đối giữ bí
mật".
Hồ Chí
Minh, P.C.Lin, Lý nặc Phu, với tư cách quan sát viên tham dự Hội
nghị VII Quốc tế cộng sản chỉ lẳng lặng ngồi nghe không nói một lời. Nếu đem đối
chiếu với Hội nghị V Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc ung dung lên diễn đàn,
tranh thủ tối đa hoàn cảnh để phát biểu, thì hai người khác nhau một trời một vực.
Nếu xem Hồ Chí Minh
như là Nguyễn Ái Quốc, vậy thì vì sao, trong hội nghị lại không được phát biểu,
hơn thế nữa, lại để cho người vợ yêu dấu của mình là Nguyễn
Thị Minh Khai công
nhiên tổ chức hôn lễ với Lê Hồng Phong? Trường hợp này, chỉ có một khả năng giải
thích, người tham gia Hội nghị VII này, không phải là Nguyễn Ái Quốc mà là đảng
viên Đảng Cộng sản Trung Quốc Hồ Tập Chương, đến từ Đài Loan, là phái viên liên
lạc của Quốc tế cộng sản. Ông cũng là Hồ Chí Minh, đã trải qua khóa
học tập cải tạo của Quốc tế cộng sản 5 năm ở Mạc Tư Khoa
Hồ Chí Minh rời
khỏi Mạc
Tư Khoa
Hồ Chí Minh phải qua 5 năm học tập cải tạo ở Mạc
Tư Khoa, không phải vì nguyện vọng cá nhân mà là bị cưỡng bách, không biết làm
thế nào, đành phải chấp nhận. Vào lúc Nguyễn Thị Minh Khai và Hoàng Văn Nọn sắp
trở về Việt Nam đã đến từ biệt Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh chính là giảng viên đã dạy họ ở Mạc
Tư Khoa, đã từng chỉnh sửa, bổ sung các bản tham luận của họ để đọc tại Hội nghịVII
Quốc tế cộng sản. Ông cũng sẽ là đại biểu được phái đến Việt Nam trong thời
gian tới. Vào lúc chia tay, Hồ Chí Minh đã hướng dẫn Hoàng Văn Nọn và Nguyễn
Thị Minh Khai về
cách thức liên lac với các đảng phái trong và ngoài nước, đồng thời truyền đạt
chỉ thị của Quốc tế cộng sản, giao cho Lê Hồng Phong ba việc như
sau:
1 - Chính phủ Pháp hiện nay do Mặt trận Bình dân năm giữ,
nhất định sẽ dẫn đến thay đổi cục diện chính trị ở Bán đảo Đông Dương. Các Ủy
viên Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đang ở nước ngoài phải lập tức về nước
ngay để chỉ đạo phong trào đấu tranh của quần chúng, chỉ lưu lại một vài đồng
chỉ để duy trì liên lạc.
2 - Các phần tử Troskism ở các nước và Việt Nam, bản chất
là phản động và phản bội, đảng của chúng ta phải kiên quyết ly khai chúng,
không được có bất cứ sự thỏa hiệp nào.
3 - Nhất định phải tập
trung hình thành trận tuyến chống chủ nghĩa phát xít và phản đối chiến tranh,
chỉ có điều, trong khi tổ chức liên minh này, không được quên lấy lợi ích của
giai cấp cần lao làm nhiệm vụ hàng đầu.
Vào
lúc mọi người đã rời khỏi Mạc Tư Khoa, hiển nhiên là Hồ Chí Minh có cảm giác trống
văng nhưng không thể làm gì khác. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn vào năm
1935, ông nói chuyện với nhà bào Liên Xô Ilya Erenburg
là, trước mắt chỉ có một hy vọng được trở về tổ quốc. Ngay sau Hội nghị VII kết
thúc, Hồ Chí Minh
đã đề nghị được tạm thời về nước, chỉ vì tình hình nội bộ Đông
Nam Á lúc ấy rất
phức tạp nên đã bị cự tuyệt. Cho đến mùa hè năm 1936, ông lại đề nghi được qua Berlin
và Pháp trở về Việt Nam, cuối cùng do nội chiến Tây Ban Nha liên quan đến nước
Pháp nên kế hoạch lại bị hủy bỏ. Năm học 1937 - 1938, ngoài việc soạn thảo, tu
sửa một số giáo trình, Hồ Chí Minh còn làm việc ở Cục Viễn Đông. Hoàn cảnh
hiện tại của ông khá là buồn thảm. Đối với phái hành động thiếu lý luận mà nói,
qua thời gian phiên dịch tác phẩm của các nhà cộng sản chủ nghĩa và thảo luận về
hình thái ý thức, nhất định là một sự thử thách gian nan. Tháng sáu năm 1938, Hội
nghi VII Quốc tế cộng sản đã qua được ba năm, Hồ Chí Minh tuyệt vọng, viết thư gửi một cán bộ
trong ban lãnh đạo Quốc tế cộng sản như sau: "Tôi bị bắt giữ
đến nay đã 7 năm, tức là đã 8 năm tôi không được hoạt động. Tôi thỉnh cầu được
sự giúp đỡ để thoát khỏi tình thế đáng buồn này. Đưa xuống địa phương hay giữ lại
thì nên sử dụng khả năng chuyên môn của tôi, chỉ xin đừng để tôi xa rời hoạt động
quá lâu". Vì việc này nên Hồ Chí Minh yêu cầu được gặp người phụ trách của Quốc
tế cộng sản, ông ta rất cần sự đồng tình của Vera Vasilieva. Cuối cùng nguyện vọng
rời Mạc Tư Khoa đã được chấp nhận.
Sau khi nhận được mật lệnh, ngày 6 tháng sáu, Hồ Chí Minh đáp xe lửa về
Trung Quốc với bí danh "Lin" là "học sinh đã hoàn thành khóa
học". Vì sao Hồ Chí Minh được phóng
thích sau nhiều năm bị quản chế ở Liên Xô dưới danh nghĩa
học tập cải tạo? Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, nội bộ Mạc Tư Khoa không muốn để
ông ra đi. Thế nhưng, vào thời kỳ những năm 1930, hồ sơ liên quan đến Hồ Chí Minh còn
lại rất ít, cho nên, để biết được nguyên nhân và động cơ thoát khỏi Mạc Tư Khoa
của ông, ta chỉ có thể suy đoán. Tuy vậy, không thể biết Quốc tế cộng sản đã
giao cho Hồ Chí
Minh nhiệm vụ gì? Chỉ thấy ông ta hầu như đặt nhiều hy vọng vào Cộng sản Trung
Quốc tích cực can thiệp đối với nhà đương cục Mạc Tư Khoa. Hồ Chí Minh báo
về với người phụ trách mới của Mạc Tư Khoa ở Trung Quốc, tiếp đó là giúp đỡ ông
thực hiện nhiệm vụ vận động cách mạng ở Việt Nam.
William J. Duiker cho rằng, việc Hồ Chí Minh rời Mạc
Tư Khoa năm 1938 là do Quốc tế cộng sản cho phép, giao phó một mật lệnh, làm
xong sẽ báo cáo giải trình. Vì sao lãnh tụ cách mạng Việt Nam không trực tiếp
trở về nước tham gia chỉ đạo phong trào, mà lại trải qua ngàn dặm xa xôi đến tận
căn cứ địa cách mạng Diên An, Trung Quốc, sau khi bàn mưu tính kế với trùm đặc
vụ Khang Sinh mới cùng Diệp Kiếm Anh về làm việc ở Bát lộ quân Quảng Tây Trung cộng? Tôi có nhận xét, William
J. Duiker giải thích: " Căn cứ vào khoảng thời gian từ mùa thu năm 1938 đến
tháng năm năm 1943, có thể phán đoán những hoạt động của Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, mà
chủ yếu là cung cấp tin tức về Mạc Tư Khoa". Giải thích như thế xem ra có
vẻ hợp tình hợp lý nhưng rất không chính xác. Vì sao Hồ Chí Minh lại phải đi theo Diệp
Kiếm Anh một
chặng đường dài đến làm việc ở Cơ quan Bát lộ quân Quế Lâm, Quảng Tây? Duyên cớ
gì trong thời gian 5 năm, ông chỉ hoạt động ở các tỉnh vùng biên giới Trung
Quốc như Quế, Kiềm, Điền cùng với lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Trung Quốc
Chu Ân Lai, Diệp Kiếm Anh, Khang Sinh, Lý Khắc Nông bàn mưu tính kế? Nội dung
những vấn đề cơ mật là gì? Tôi cho rằng thân phận đích thực của Hồ Chí Minh có
liên quan đến việc Quốc tế cộng sản giao cho ông nhiệm vụ bí mật.
Căn cứ vào những hồ sơ ghi chép về những hoạt động của Hồ Chí Minh tại Trung Quốc,
tôi đã thấy xuất hiện một vài manh mối mới. Kết hợp với những tài liệu lưu trữ
trong gia tộc, tôi đem so sánh, đối chiếu, và, phần nào đã phục hồi được sự thật
lịch sử.
Màn hai
Hồ Chí Minh ở Trung Quốc (1938 -
1945)
Ngàn dặm xa xôi
đến Diên An
Đầu năm
1938, Hồ Chí Minh rời Mạc Tư Khoa bằng xe lửa xuyên qua vùng lãnh
nguyên phía nam nước Nga, lưu lại Alma-Ata, thủ phủ của nước Cộng hòa Kazakhstan, sau đó tiếp tục đến vùng
biên giới Trung Quốc, nhập vào một đoàn thương gia, qua Urumchi (Ô Lỗ Mộc Tề) rồi
về Lan Châu. Tại Lan Châu, Hồ Chí Minh gặp được người của Đảng Cộng sản Trung Quốc giúp
đỡ tiếp tục hành trình tới Tây An. Đến Tây An, ông lại được thủ trưởng cơ quan
Giải phóng quân nhân dân Tây An Ngũ Tu Quyền tiếp đón. Hồi ký Ngũ Tu Quyền
viết: "Các đồng chí lãnh đạo cao cấp phân công tôi tiếp đón một nhân vật
rất quan trọng. người châu Á, tuy không biết họ tên nhưng được lệnh phải tiếp
đãi chu đáo, sau đó bảo vệ cẩn thận để ông ta đến Diên An an toàn". Tại
Tây An, Hồ Chí Minh đợi hai ngày, sau đó nhập vào một đoàn xe trâu và xe ngựa,
đi lên phía bắc chừng hơn trăm dặm thì đến sơn khu Diên An. Trên đường đi gặp
khá nhiều quân đội Quốc dân đảng. Hồ Chí Minh cải trang thành người đánh xe đi cùng đoàn dân phu, vì thế,
phần lớn hành trình đều phải đi bộ.
Cuối
tháng mười, Hồ Chí Minh đến nhà khách "Vườn Táo" do đặc vụ Khang
Sinh tiếp đón.
Lúc ấy, Khang Sinh là Bộ trưởng Bộ Xã hội, phụ trách công việc an toàn
điều tra, Lý Khắc Nông là Phó bộ trưởng kiêm nhiệm thủ trưởng Cơ quan Bát lộ
quân Quế Lâm, Quảng Tây. Thật là, ở đời người ta gặp nhau khó lường. Những
tưởng vào khoảng năm 1934, tại Mạc Tư Khoa, Khang Sinh đã đề xuất mức án xử tử
Hồ Chí Minh, vậy mà ngày nay, tại "Vườn Táo", ông ta lại trở thành
khách quý của trùm đặc vụ. Căn cứ vào những bằng chứng có được, Hồ Chí Minh và
Khang Sinh bàn mưu với mật lệnh do Quốc tế cộng sản giao phó là có liên quan đến,
một là, quét sạch chủ nghĩa Trosky và những phần tử theo chủ nghĩa Trosky, hai
là, chấp hành tuyệt đối không được để lộ bí mật cho người ngoài biết".
Trong tập 3 "Hồ Chí Minh toàn tập", có bức thư Hồ Chí Minh gửi
"Tiếng nói của chúng ta" ở Việt Nam (Ngã môn chi thanh), năm 1939, nội
dung đề cập đối với chủ nghĩa Trosky là phải phân định rạch ròi, có đầy đủ chứng
cứ. Nhiệm vụ bí mật có thể liên quan đến thân phận người Đài Loan của Hồ Chí
Minh. Theo quan niệm người đời "chết mà sống", "nghèo mà
quý", vật đổi sao dời, họa phúc sớm chiều, thì rất khó dự đoán.
Sau
khi đến nhà khách "Vườn Táo" một tuần, Hồ Chí Minh cải trang thành
lính cần vụ của Diệp Kiếm Anh trên hành trình dặm trường cát bụi đến Cơ quan Bát lộ quân Quế Lâm,
Quảng Tây. Đây là bước đi đầu tiên trong sự nghiệp vinh quang của Hồ Chí Minh
sau này. Thời kỳ Hồ Chí Minh đến Cơ quan
Bát lộ quân Quế Lâm, Quảng Tây không có cách nào tra cứu chính xác. Tài liệu
Trung cộng thì ghi là cuối năm 1938. Căn cứ vào giáo sư Hoàng Tranh trong bài
phỏng vấn Hà Khải Quân ngày 23 tháng chín năm 1982 như sau: "Vào khoảng
cuối năm 1938 đến đầu năm 1939. lúc ấy, tôi
và Hồ Chí Minh, bí danh là Hồ Quang, cùng làm việc tại Tổng
bộ Bát lộ quân Quế Lâm, Quảng Tây , hết giờ lại về ở trong một căn phòng lớn
phía tây đường Mạc Thôn. Nghe giọng nói, tôi biết ông là người Quảng Đông.
Hồ Chí Minh phụ trách công
việc vệ sinh kiêm viết báo tân văn, vì thế cũng là một vị lãnh đạo cơ quan. Ông
còn phụ trác biên tập tờ nội san "Sinh hoạt tảo báo" (Sinh hoạt buổi
sáng). Tất nhiên chúng tôi hoàn toàn không biết thân phận của ông, sau này mới
phát hiện ra, Hồ Quang có rất nhiều nét đặc biệt. Có một lần, tôi phê bình ông
ấy một vài vụ việc nho nhỏ, đến ngày thứ hai, Lý Khắc Nông phụ trách "Bát
biện" (Quế Lâm Bát lộ quân biện sự xứ), tìm gặp hỏi tôi phê bình Hồ Quang
về việc gì? Sao lại dám tự tiện phê bình như vậy? Đến lúc ấy tôi mới biết thân
phận Hồ Quang không đơn giản. Ông là người rất có khí thế".
Cơ quan Bát lộ quân Quế Lâm
Cơ quan
Bát lộ quân Quế Lâm đóng tại nhà số 96, đường Trung Sơn Bắc, thành phố Quế Lâm,
tỉnh Quảng Tây, cũng gọi là Cơ quan Tập đoàn quân 18 Quốc dân cách mạng quân,
là một cơ quan bí mật của Cục Phương Nam Trung cộng. Hạ tuần tháng mười một năm
1938, căn cứ vào chỉ thị của Trung ương, sau khi Chu Ân Lai cùng Quốc dân đảng
Quế Lâm hiệp thương, Lý Khắc Nông lấy tư cách Bí thư trưởng Cục Phương Nam kiêm
chủ nhiệm Cơ quan Bát lộ quân, toàn quyền phụ trách Quế Lâm. Từ tháng mười hai
năm 1938 đến tháng năm năm 1939, Chu Ân Lai đã ba lần đến Quế Lâm tực tiếp chỉ
đạo, giao nhiệm vụ cho Cơ quan Bát lộ quân và lãnh đạo Cục Phương Nam, tích cực
tuyên truyền chủ trương kháng Nhật, đoàn kết các nhân sĩ yêu nước kháng nhật,
hợp thành mặt trận thống nhất, triển khai các hình thức vận động cứu quốc.
Ngày 20
tháng giêng năm 1941, xảy ra sự biến "Miền nam An Huy" (Hoãn Nam sự
biến), ảnh hưởng đến vận mệnh Cơ quan Bát lộ quân Quế Lâm, nên buộc phải triệt
hồi rút về Diên An. Thời gian này, Diệp Kiếm Anh, Diệp Đĩnh, Quách Mạt Nhược,
Hạ Diễn cũng đã rút về đây tiếp tục hoạt động.
Từ cuổi
tháng mười hai năm 1938, sau khi Chu Ân Lai đến Cơ quan Bát lộ quân Quế Lâm chỉ
đạo công tác, Hồ Chí Minh cũng được bố trí là Phó chủ nhiệm "Cứu vong
thất" kiêm Ủy viên phụ trách vệ sinh và Ủy viên biên tập báo tường. Lúc
ấy, trừ chủ nhiệm Lý Khắc Nông ra, rất ít người biết Hồ Chí Minh là Ủy viên Đông Phương bộ, Quốc
tế cộng sản và
thân phận thực của ông. Hồ Chí Minh là bạn rất thân thiết của Chu Ân Lai, tích
cực vận động Diệp Kiếm Anh phụ trách quân sự và Lý Khắc Nông phụ
trách đặc vụ, nên đã thành lập được "Đảng bộ Hải ngoại" của Đảng Cộng sản Việt
Nam, hoạt động rất có hiệu quả.
Ban huấn luyện cán bộ chiến tranh du kích
Hành Sơn, Hồ Nam
Tháng hai năm 1939, người chỉ
huy quân sự của Đảng Cộng sản Trung Quốc là Diệp Kiếm Anh chuyển từ Quế Lâm về phía đông
bắc khoảng hai trăm dặm, đến phía nam dãy núi Hành Sơn, thành lập "Trung
tâm huấn luyện cán bộ du kích". Kế hoạch này hình thành từ 25 tháng mười
một năm 1938, khi tại Hành Sơn, triệu tập Hội nghị quân sự, đề xuất "hai
giai đoạn kháng chiến". Hội nghị nhận thấy, chiến tranh du kích có ưu thế
hơn chiến tranh chính quy nên đã quyết định thành lập. Giai đoạn thứ nhất của
Ban huấn luyện cán bộ du kích bắt đầu từ ngày 15 tháng hai năm 1939. Giai đoạn
thứ hai từ 20 tháng sáu đến 20 tháng chín năm 1939.
Hồ Chí
Minh sau 6 tháng rời Quế Lâm, lấy bí danh Hồ Quang, tham gia giai đoạn hai lớp
huấn luyện cán bộ du kích. Chương trình huấn luyện đã cung cấp cho Hồ Chí Minh
rất nhiều phương tiện và kiến thức bổ ích. Sau này, khi rời khỏi sơn khu Tĩnh
Tây, Hồ Chí Minh đã sử dụng những kiến thức và kinh nghiệm quý đó, về căn cứ
địa Việt Bắc, mở lớp huấn luyện chiến tranh du kích và lập ra một chi đội giải
phóng quân vũ trang đầu tiên.
Một mặt
tham gia huấn luyện "Du kích ban", mặt khác, Hồ Chí Minh còn đảm nhiệm
công việc điện báo viên điện đài, nghe các thông tin từ đài phát thanh nước
ngoài, đặt trụ sở trong một trang viên phía tây thành Nhạc Dương. Hồi ký của
Ngô Khê Như, một người từng là giáo viên giảng dạy tại "Du kích ban",
viết về Hồ Chí Minh như sau: "Đồng chí Hồ Chí Minh tham gia khóa học Huấn
luyện cán bộ du kích vài tháng, cũng kiêm nhiệm luôn công việc phiên dịch, chức
danh là Trưởng ban thông tin cơ quan Quế Lâm, thường gọi là Ngoại công".
Hồi ký của Lý Bội Quần cũng viết: "Hồ Chí Minh nói chuyện bằng tiếng Quảng
Đông rất giỏi nhưng tiếng phổ thông thì không được lưu loát. Khi ấy, các đồng
chí được Đảng Cộng sản cử đến Ban huấn luyện cán bộ du kích ở Nhạc Dương rất ít
người biết tiếng Quảng Đông, nhưng Hồ Chí Minh chỉ thích nói chuyện với chúng tôi
bằng tiếng phổ thông".
(Tác giả nhận định, Lý Bội Quần là liên lạc
viên giao thông Cơ quan Bát lộ quân Quế Lâm, sau khi khóa "Huấn luyện cán
bộ du kích Hành Sơn" kết thúc, Hồ Chí Minh được đưa đến Long Châu Quảng
Tây để liên lạc với người của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những người chạp, không
hoạt bát khó có thể làm liên lạc. Lý Bội Quần nói "Hồ Chí Minh nói tiếng
Quảng Đông rất giỏi" chính là nói tiếng Khách, bởi Lý Bội Quần cũng là
người Khách nên rất thông thạo thứ ngôn ngữ này. Vào năm 1930, Chu Ân Lai đã
biết rõ Hồ Tập Chương là người Khách đến từ Đài Loan, cho nên, năm 1931, Hồ Tập
Chương trốn khỏi Quảng Châu, một người Khách khác là Đào Chú đã cử một nữ đảng
viên Khách Gia đi cùng để bảo vệ. Năm 1932, vào lúc Hồ Tập Chương đang lẩn trốn
ở Long Châu, lại cùng một người Khách Gia khác là Đặng Tiểu Bình bàn mưu tính
kế cho cuộc khởi nghĩa Long Châu. Năm 1938, lúc từ phía nam Diên An xuống Quế
Lâm, Hồ Chí Minh được bố trí làm lính cần vụ cho một người Khách Gia khác là Diệp
Kiếm Anh. Hàng loạt những sự việc trùng hợp nhau hoàn toàn không đơn giản, bởi
lẽ đều là có sự sắp xếp từ trước).
Trong một cuốn sách nhỏ nhan
đề "Thông tin về đợt hai Ban huấn luyện cán bộ du kích quân huấn Bộ Tổng
tham mưu, Ủy viên quân sự hội", có đăng tải công khai hồ sơ Hồ Chí Minh
như sau:
Họ tên: Hồ Quang
Chức vụ: Thiếu tá, nhân viên Đài tân văn.
Tuổi: 38
Quê quán: Quảng Đông
Đơn vị: Tập đoàn quân 18.
Từng làm công tác: Giáo viên
trung học, hiệu trưởng trường ngoại ngữ.
Đảng bộ Hải ngoại Đảng Cộng sản Đông Dương
Tháng 9
năm 1939, sau khi lớp "Huấn luyện cán bộ du kích" kết thúc, Hồ Chí
Minh lại trở về Cơ quan Bát lộ quân Quế Lâm. Tháng mười hai năm 1939, ông được
điều dến Cơ quan Bát lộ quân Quý Dương giúp việc cho đồng chí cấp dưỡng. Mọi người
đều hoan hỷ đón tiếp Hồ Chí Minh. Ông cũng thường dạy mọi người tiếng Nga và
tiếng Anh, vào lúc có tiền thì bỏ ra một ít mua rau quả mời mọi người cùng ăn.
Đầu năm
1940, Hồ Chí Minh ở thôn Hồng Nham thuộc Cơ quan Bát lộ quân Trùng Khánh, đã có
vài lần cùng Chu Ân Lai và Diệp Kiếm Anh bí mật bàn bạc. Tháng hai năm 1940, Hồ Chí Minh
đến Côn Minh, với sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đã liên lạc được với
Đảng bộ Hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương. Đảng Cộng sản Đông Dương dưới
danh nghĩa Việt Kiều ở Côn Minh đã sớm xây dựng tổ chức, triển khai hoạt động.
Thời kỳ năm 1939, tại Côn Minh đã thành lập được bộ phận hải ngoại của Đảng
Cộng sản Đông Dương, những người lãnh đạo gồm Phùng Chí Kiên, Vũ Anh (bí danh
Trịnh Đông Hải), Hoàng Văn Hoan (bí danh Lý Quang Hoa). Tháng năm năm 1940, Hồ
Chí Minh cùng nhóm Phùng Chí Kiên tại Vân Nam (tỉnh Điền) đi xe lửa về Côn
Minh. Lúc này, Phạm Văn Đồng (bí danh Lâm Bá Kiệt), Võ Nguyên Giáp (bí danh
Dương Hoài Nam) đã từ Việt Nam đến Côn Minh. Sau
khi đến trụ sở Đảng bộ Hải ngoại, nhóm này được gặp Hồ Chí Minh tại công viên
Thúy Hồ. Lúc ấy họ hoàn toàn không biết Hồ Chí Minh đã đề nghị Đảng Cộng sản
Đông Dương thu nhập Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương hải ngoại, đồng thời cử họ
đi Diên An học tập. Đầu tháng sáu, Cao Hồng Lĩnh dẫn đường đưa Hoàng Văn Hoan
và Võ Nguyên Giáp đến Cơ quan Bát lộ quân Qúy Dương chờ để đi Diên An học tại
"Đại học kháng Nhật Tây Nam" do trùm đặc vụ Khang Sinh chủ trì.
Ngày 27
tháng sáu năm 1940, quân đội Hitler dánh chiếm thủ đô Paris, nước Pháp đầu
hàng. Ngày 22 tháng chín năm 1940, đại tướng Decoux vừa nhậm chức Toàn quyền
Đông Dương, đã thỏa thuận ngầm cho quân đội Nhật vượt qua ải Nam Quan tiến
xuống Hải Phòng. Hồ Chí Minh suy nghĩ, tình hình này sẽ đẩy Việt Nam và Đông
Dương đến một cục diện mới, liền triệu tập Đảng bộ Hải ngoại, đề xuất chuyển
địa bàn hoạt động về vùng biên giới Quảng Tây-Việt Nam, sau đó về nước trực
tiếp chỉ đạo đấu tranh vũ trang. Mọi người đều đồng ý kế hoach này. Sau đó, Hồ
Chí Minh từ Côn Minh đi Trùng Khánh gặp Chu Ân Lai, một tháng sau lại trở về
Côn Minh.
Thời gian này, Đảng bộ Hải ngoại nhận được thư
của Hồ Học Lãm do Văn phòng ủy viên quân sự Quế Lâm của tướng Lý Tế Thâm chuyển
cho. Trong thư, Hồ Học Lãm nói, Tư lệnh trưởng Đệ tứ chiến khu Liễu Châu có một
sĩ quan người Việt là Trương Bội Công, nhận được chỉ lệnh quan trọng của Quốc
dân đảng là quân đội Trung Quốc sắp tiến vào Việt Nam. Để đối phó với sự kiện
này, Trương Bội Công đã tiến hành chiêu mộ nhân sĩ Việt Nam, tổ chức tại biên
giới một đội công tác. Hồ Học Lãm cũng đề nghị các đồng chí ở Đảng bộ Hải ngoại
từ Côn Minh sang Quảng Tây để tiện khống chế Trương Bội Công. Hồ Chí Minh nhận
thấy đây là thời cơ thuận lợi, lập tức yêu cầu Phùng Chí Kiên, Vũ Anh, Hoàng
Văn Hoan phải nhanh chóng sang Quảng Tây, đồng thời thông báo đến Quý Dương cho
Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp tạm thời không đi Diên An mà trở lại Quảng Tây.
Việc tếp theo là chuyển trụ sở Đảng bộ Hải ngoại về đóng tại Cơ quan Bát lộ
quân Quế Lâm, coi như trung tâm chỉ huy tác chiến, thành lập căn cứ địa cách
mạng, triển khai phương thức đấu tranh mới.
Tháng
mười năm 1940, Hồ Chí Minh trở lại Quế Lâm. Không lâu sau, Phùng Chí Kiên, Vũ
Anh, Hoàng Văn Hoan, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp cũng từ chố Trương Bội Công
ở Liễu Châu về Quế Lâm. Có Hồ Chí Minh tại Cơ quan Bát lộ quân ngầm yểm trợ, Vũ
Anh, Phạm Văn Đồng làm liên lạc, đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương Hải ngoại đã
tổ chức được lực lượng. Trong khi ấy, ở Quế lâm, Hồ Chí Minh thành lập cơ quan
"Việt Nam độc lập đồng minh hội" do Hồ Học Lãm làm Chủ nhiệm, Phạm
Văn Đồng làm Phó chủ nhiệm. Hồ Chí Minh lại bố trí Hoàng Văn Hoan, Phạm Văn
Đồng gặp gỡ Lý Tế Thâm, đồng thời mở tiệc chiêu đãi thư ký của ông ta để cho
"Việt Nam độc lập đồng minh hội" được thành lập từ ngày 8 tháng mười
hai năm 1940. Từ nay, những người cộng sản Việt Nam tại Quế Lâm đã có một tổ
chức hoạt động công khai, hợp pháp.
Như
vậy, mọi hoạt động của "Việt Nam độc lập đồng minh hội", thực tế là
do Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam Hải ngoại chỉ đạo, đồng thời, Hồ Chí Minh còn
thông qua quan hệ với Cơ quan Bát lộ quân Quế Lâm để Hồ Học Lãm, Phạm Văn Đồng
tiếp xúc với giới ký giả tân văn, nhân sĩ văn hóa, với mục đích quảng bá rộng
rãi cho cách mạng Việt Nam. Tiếp sau đó lại thành lập "Trung Việt văn hóa
công tác đồng chí hội' nhằm triển khai các hoạt động của "Việt Nam độc lập
đồng minh", kiên trì dường lối đấu tranh giải phóng dân tộc.
Mặt trận Việt Nam
độc lập Đồng minh
Sau khi
thành lập được "Việt Nam độc lập đồng minh hội" , dưới sự yểm trợ của
Hồ Chí MInh, Đảng bộ Hải ngoại Đảng Cộng sản Việt Nam lại tổ chức thành công
"Trung Việt văn hóa công tác đồng chí hội'" để có chỗ dựa, đã tranh
thủ lợi dụng hoàn cảnh, tạo điều kiện tối đa cho các đảng viên Đảng bộ Hải
ngoại hoạt động công khai.
Thời kỳ
này, những người cộng sản Việt Nam lợi dựng sự kiện Pháp Nhật xung đột ở Lạng
Sơn để tổ chức cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn.
Sau đó không lâu, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Văn Hoan chuyển
về huyện Tĩnh Tây, thành lập "Việt Nam dân tộc giải phóng ủy viên
hội" vào tháng bảy năm 1940 tại Liễu Châu với lời phát biểu "Tuyên
ngôn thành lập" kêu gọi các dân tộc Việt Nam vùng lên đấu tranh thoát khỏi
ách đô hộ của thực dân Pháp, phát xít Nhật. Có được nguồn kinh phí do Trương
Bội Công xin được từ Quốc dân đảng, "Việt Nam dân tộc giải phóng ủy viên
hội" mở lớp huấn luyện cán bộ thanh niên Việt Nam, làm nòng cốt cho công
cuộc giải phóng dân tộc. Đầu năm 1941, Hồ Chí Minh đem "Việt Nam dân tộc
giải phóng ủy viên hội" phân chia làm hai tổ. Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên
Giáp, Hoàng Văn Hoan ở lại Tĩnh Tây, Phùng Chí Kiên, Vũ Anh, Lê Quảng Ba về Cao
Bằng làm cơ sở nòng cốt công tác. Sau khi thành lập cơ quan tại thôn Bắc Pha
thuộc huyện Hà Quảng, Cao Bằng, Hồ Chí Minh lần này cải tên là Thu Ông, từ Tĩnh
Tây về Bắc Pha. Bắc Pha là một thôn nhỏ hẻo lánh vùng núi cao, cư dân toàn là
người Nùng. Đây là lần đầu tiên Hồ Chí Minh đến Việt Nam trực tiếp lãnh đạo
cách mạng. Nhóm Phạm Văn Đồng lưu lại Tĩnh Tây vẫn sử dụng mối quan hệ giữa
Trương Bội Công và Quốc dân đảng làm chỗ dựa, đến ngày 12 tháng tư năm 1941 thì
chính thức thành lập "Việt Nam dân tộc Giải phóng đồng minh hội".
Đến lúc này, những tổ chức thành viên do Đảng
Cộng sản Việt Nam lập ra và chỉ đạo gồm có Đảng Dân chủ Việt Nam và "Việt
Nam độc lập đồng minh hội". "Việt Nam dân tộc Giải phóng đồng minh hội"
thành lập không lâu, Hồ Chí Minh lại thành lập Cơ quan Trung ương chỉ huy bí
mật của Đảng cộng sản Đông Dương. Ngày 10 tháng năm năm 1941, tại Bắc Pha,
triệu tập Hội nghị VIII Đảng Cộng sản Đông Dương do Hồ Chí Minh chủ trì. Tham gia Hội nghị gồm
có Hoàng Văn Thụ, Trường Chinh (Đặng Xuân Khu), Phùng Chí Kiên, Hoàng Văn Hoan,
Hoàng Quốc Việt. Hội nghị quyết định thành lập và phát triển căn cứ địa du
kích, thành lập "Mặt trận Việt Minh", lấy "Việt Nam độc lập đồng
minh" làm trung tâm cùng 16 tổ chức "Cứu quốc hội". Ngày 19
tháng năm năm 1941, thành lập "Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh",
gọi tắt là "Việt Minh". Hội nghị suy tôn Hồ Chí Minh là Tổng bí thư
Đảng, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, tuy nhiên Hồ Chí Minh kiên quyết
từ chối, đề nghị chuyển chức vụ này cho Trường Chinh, người đã có nhiều năm
hoạt động bí mật trong nước. Cương lĩnh của Việt Minh quy định, mục tiêu phấn
đấu trước mắt của nhân dân Việt Nam là, sau khi lật đổ phát xít Pháp, Nhật, sẽ
thành lạp Chính phủ cách mạng của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đồng thời
sử dụng cờ đỏ sao vàng làm quốc kỳ.
Bị bắt ở Quảng Tây
và tập thơ "Nhật ký trong tù"
Sau khi
kết thúc Hội nghị VIII Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và
thành lập "Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh", trực tiếp lãnh đạo
cách mạng Việt Nam, thời gian này, Hồ Chí Minh thường qua lại giữa Bắc Pha và
Tĩnh Tây. Ngày 6 tháng sáu năm 1941, Hồ Chí Minh viết bức thư nhan đề "Thư
hiệu triệu gửi dồng bào Việt Nam", ký tên Nguyễn Ái Quốc, nguyên văn bằng
chữ Hán, qua phương thức "thừ từ nước ngoài gửi về" kêu gọi đồng bào
cả nước đứng lên, thành lập "Hội cứu quốc", đánh đổ đế quốc Nhật,
Pháp xâm lược. Bức thư hiệu triệu này rất nhanh chóng lan truyền đến các đia
phương, cổ vũ mãnh liệt tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam, làm cho không
khí cách mạng lan rộng khắp các tỉnh, các giới nhân sĩ tham gia các "Hội
cứu quốc" mỗi ngày một đông.
(Tác
giả nhận định, căn cứ vào lời giáo sư Tưởng Vĩnh Kính, 16 tổ chức "Hội cứu
quốc" dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương bao gồm các đoàn
thể: công nhân, nông dân, quân nhân, văn
hóa, thanh niên, phụ nữ, nhi đồng, phụ lão, phật giáo, thiên chúa giáo, thương
nhân v.v... Mặt trận Việt Minh có sức lan tỏa rộng khắp, ảnh hưởng ngày càng
lớn đến quần chúng nhân dân, nguyên nhân cũng bởi hình tượng Nguyễn Ái Quốc
bỗng nhiên sống lại trong lòng nhân dân Việt Nam sau 10 năm vắng bóng vì cái tin ông đã chết do bệnh lao phổi vào
mùa thu năm 1932. Lần đầu tiên cái tên Nguyễn Ái Quốc xuất hiện công khai trước
báo chí quốc tế.
Hạ tuần
tháng tám năm 1942, được Lê Quảng Ba dẫn đường, Hồ Chí Minh lại mọt lần nữa rời
Bắc Pha sang Trung Quốc. Mục đích sang Trung Quốc của ông lần này là để di
Trùng Khánh gặp Chu Ân Lai báo cáo tình hình Việt Nam hiên tại và trao đổi về
tình hình thế giới.
(Tác giả nhận định, Hồ Chí Minh sau khi bị Quốc dân đảng
bắt giữ, trong tập "Nhật ký trong tù" của ông có bài "Tưởng công
huấn từ" (Lời dạy của Tưởng công), đã bị giải thích thành "Lần này
đến Trung Quốc để gặp Tưởng Giới Thạch" là sai lầm. Từ những năm 1929, Chu
Ân Lai đã sớm biết Hồ Tập Chương là người Đài Loan, cũng biết Nguyễn Ái Quốc đã
chết năm 1932, và đến năm 1935, Quốc tế cộng sản dùng Hồ Tập Chương thay thế thân
phận Nguyễn Ái Quốc. Năm 1938, Hồ Tập Chương đến "Cơ quan Bát lộ quân Quế
Lâm", họ Chu đã dành cho Hồ Quang sự giúp đỡ đặc biệt. Từ năm 1940 đến
1941, Hồ Quang và Chu Ân Lai nhiều lần gặp nhau tại Trùng Khánh bàn việc cơ
mật. Được các Cơ quan Bát lộ quân Quế Lâm, Quý Châu, Trùng Khánh hết sức yểm
trợ, Hồ Quang đã có nhứng sáng tạo mới làm thay đổi sự nghiệp cách mạng. Về
điểm này, chắc Hồ Tập Chương ghi nhớ rõ
từng chi tiết trong lòng, cho nên đã nhiều lần xưng hô với Chu Ân Lai là
"Ân ca". Tình cảm bạn bè giữa hai người còn hơn cả tình đồng chí).
Trước khi đi, Hồ Chí Minh đóng
dấu tên mình, ở giữa là ba chữ Hồ Chí Minh, hai bên phải trái viết các chữ
"Tân văn ký giả" và "Việt Nam Hoa kiều". Danh xưng Hồ Chí
Minh này được bắt đầu dùng từ ngày 25 tháng tám khi ông đến Ba Mông Thành,
huyện Tĩnh Tây, ở lại nhà người anh em kết nghĩa Từ Vĩ, vui vẻ đón tết rằm
tháng bảy. Sáng sớm ngày 27 tháng tám, Hồ Chí Minh được một người dân biên giới
là Dương Đào dẫn di Trùng Khánh. Vào lúc hai người đang trên đường đến Túc
Vinh, huyện Đức Bảo thì bị đám hương cảnh thuộc Sở Cảnh sát bắt giữ. Khi hương
cảnh Dương Phúc Mậu tra vấn Hồ Chí Minh, đối chiếu với lai lịch của ông, người
này tỏ vẻ hoài nghi, phát hiện ngoài những giấy tờ chứng minh là hội viên
"Phân hội quốc tế phản xâm lược" còn mang theo thẻ phóng viên
"Trung Quốc thanh niên tân văn ký giả", thông tín viên đặc biệt
"Quốc tế tân văn xã" cùng với giấy thông hành quân đội do Tư lệnh
trưởng Đệ tứ chiến khu cấp. Những giấy tờ này đều được cấp vào năm 1940, đã hết
hạn sử dụng, chứng tỏ lại lịch Hồ Chí Minh rất phức tạp, có khả năng là gián
điệp nên bắt lại, giải đến trụ sở hương, giao cho điều tra viên Mã Hiển Vinh,
sau đó, ông được chuyển đến cơ quan quân sự tối cao Quảng Tây thẩm vấn. Từ ngày
27 tháng tám bị bắt ở Túc Vinh, Hồ Chí Minh bị giả qua Tĩnh Tây, Nam Ninh, Liễu
Châu, Quế Lâmv.v... tất cả 13 huyện, hương, trấn, tạm giam ở 18 nhà ngục. Tính
ra, Hồ Chí Minh bị giam trong ngục 14 tháng, trong tù, ông dùng Hán văn viết
tập thơ "Nhật ký trong tù" gồm 133 bài. Giáo sư Hoàng Tranh nhận xét:
"Nhật ký trong tù" gồm thơ thất luật (thất ngôn bát cú), thất tuyệt
(thất ngôn tứ tuyệt), ngũ luật (ngũ ngôn) và tạp văn, nội dung phần lớn đều để
thư giãn đầu óc hoặc phản ảnh hiện thực, lúc hứng lên thì ngâm ngợi. Thơ ông
thường xuất khẩu mà thành, không có sự gia công chỉnh sửa nhưng rõ ràng, dễ
hiểu. 134 bài thơ (tính gộp cả bài "Mới ra tù tập leo núi") trong tù,
không đơn giản chỉ là thơ, mà là một bộ sử thi tự họa chân dung của một nhà
cách mạng. Mỗi bài thơ trên hành trình đều phản ánh một cách sinh động tư thế
ung dung tự tại, một trí tuệ lớn của nhà cách mạng lão luyện, kiên nghị - hình
tượng Hồ Chí Minh".
Sau khi Hồ Chí Minh bị bắt,
Việt cộng Trung ương vô cùng hoang mang, đã nhiều lần điện báo hỏi chính phủ
Quốc dân đảng, lại thông qua các hãng
thông tấn REUTERS Anh Quốc,
AFP của Pháp và TASS của Liên Xô loan báo tin tức, tạo
dư luận. Họ dùng trăm phương ngàn kế gây áp lực với nhà đương cục Trung Quốc,
yêu cầu phóng thích Hồ Chí Minh, nhưng chính phủ Quốc dân đảng đều không chấp nhận. Lúc ấy, Chu
Ân Lai ở Trùng Khánh biết tin, phải nhờ đến Phùng Ngọc Tường và Lý Tông Nhân,
còn Tưởng Giới Thạch thì gây áp lực với các địa phương, đến cuối tháng giêng
năm 1943, ra lệnh cho Đệ tứ chiến khu phóng thích Hồ Chí Minh, giao cho Ban
chính trị thẩm tra, xử lý. Hồ Chí Minh từ nhà tù Quế Lâm đến trại tạm giam quân
đội Liễu Châu. "Nhật ký trong tù" có 2 bài ghi lại sự việc xảy ra lúc
ấy. Bài 108, nhan đề"Đến Ban chính trị Đệ tứ chiến khu":
Quảng Tây giải khắp mười ba huyện,
Mười tám nhà lao đã ở qua,
Phạm tội gì đây ? Ta thử hỏi,
Tội trung với nước, với dân à ?
Và bài:
"Nhà giam của Cục chính trị":
Ba thước chiều dài hai thước rộng,
Bốn người chen chúc ở bên trong.
Duỗi chân một tí cũng không thể,
Nhà hẹp mà người lại quá đông.
Ngày 10 tháng chín năm 1943,
Hồ Chí Minh từ nhà tạm giam quân đội dược trả tự do.
Trở lại Bắc Pha, tháng tám khải ca
Ra khỏi ngục không lâu, Hồ Chí
Minh được Tư lệnh trưởng Đệ tứ chiến khu Trương Phát Khuê ngưỡng mộ đề nghị
tham gia hoạt động "Việt Nam cách mạng đồng minh hội" và cử làm Phó
chủ tịch (Chủ tịch là Nguyễn Hải Thần). Tổ chức có sự hiệp trợ của nhân sĩ các
đảng phái Việt Nam tại Đệ tứ chiến khu, được thành lập từ tháng mười năm 1942.
Tháng ba năm 1944, "Việt Nam cách mạng đồng minh hội" khai mạc Hội
nghị đại biểu "Hải ngoại cách mạng đoàn thể", bầu ta ban chấp hành.
Tháng sáu năm 1944, Hoàng Văn Hoan sang Liễu Châu hội kiến với Hồ Chí Minh báo
cáo về tình hình cách mạng Việt Nam và những hoạt động của Việt Minh. Hồ Chí
Minh nhân thời cơ khi Hội nghị đại biểu "Hải ngoại cách mạng đoàn
thể" kết thúc, nói với Trương Phát Khuê ý định trở lại Việt Nam, đồng thời
đệ trình ông ta một bản dự thảo tổng quát kế hoạch công tác là phát triển
"Việt Nam cách mạng đồng minh hội", giành độc lạp hoàn toàn cho Việt
Nam. Sau khi Trương Phát Khuê đồng ý, Hồ Chí Minh bèn tổ chức "Chiến địa
công tác tổng đội", chọn được 18 thanh niên ưu tú rời Liễu Châu vào ngày 9
tháng tám năm 1944 về Bắc Pha.
Ngày 27
tháng chín năm 1940, phát xít Nhật đánh chiếm Lạng Sơn, quân Pháp thua trận rút
lui qua Bắc Sơn về Thái Nguyên. Phùng Chí Kiên, Chu Văn Tấn, Lương Văn Chi lấy
danh nghĩa Đảng Cộng sản Đông Dương, lãnh đạo nhân dân Bắc Sơn khởi nghĩa, đánh bại
quân pháp, thu vũ khí, xây dựng căn cứ địa cách mạng Bắc Sơn - Vũ Nhai. Năm
1943, tại căn cứ Bắc Sơn -Vũ Nhai, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Văn
Hoan, Vũ Anh lãnh đạo xây dựng Cao Bằng thành căn vứ địa cách mạng trung ương.
Hồ Chí Minh và các lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Đông
Dương nghiên cứu,
khảo sát tình thế cách mạng, quyết định thành lập "Đội tuyên truyền Việt
Nam giải phóng quân" vào ngày 22 tháng mười hai năm 1944 do Võ Nguyên Giáp
làm chỉ huy trưởng, Hoàng Văn Thái làm chính trị viên, đặt nền móng cho lực
lượng quân đội Cộng sản Việt Nam sau này.
Ngày 4
tháng sáu năm 1945 "Việt Nam cứu quốc quân" và "Việt Nam tuyên
truyền giải phóng quân" hợp nhất thành "Việt Nam giải phóng
quân". Cũng trong tháng tám, chớp được thời cơ quân đội Nhật đầu hàng Đồng
Minh, cao trào cách mạng bùng phát, Võ Nguyên Giáp, Chu Văn Tấn, Hoàng Văn Thái
chỉ huy đội "Việt Nam giải phóng quân" tiến về thủ đô Hà Nội, không
mất một viên đạn, một người lính.
Trung
tuần tháng tám năm 1945, Hồ Chí Minh sau khi được tin Nhật Bản đã chấp nhận
"Tuyên bố Potsdam", từ
ngày 13 đến 15 tháng tám năm 1945, tại Tuyên Quang, Đảng
Cộng sản Đông Dương triệu tập hội nghị chuẩn bị công tác vũ trang
khởi nghĩa.
Ngày 15 tháng tám, Nhật Bản đầu hàng.
Ngày 16 tháng tám, Tổng bộ Việt Minh tổ chức "Hội nghị toàn quốc"
thông qua nghị quyết, tập trung toàn bộ lực lượng, phát động tổng khởi nghĩa
toàn quốc. Sau khi giành được hoàn toàn độc lập, sẽ thành lập nhà nước "Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa", thực hiện cải cách dân chủ với 10 chính sách lớn,
suy tôn Hồ Chí Minh làm chủ tịch, quyết định trước khi quân đội Đồng Minh tiến
nhập lãnh thổ Việt Nam, phải giành được chính quyền từ tay quân đội Nhật. Ngày 16 tháng tám, "Việt Nam giải
phóng quân" tiến dánh Thái Nguyên, mở đầu cho cuộc tổng khởi nghĩa. Ngày 19 tháng tám năm
1945, Hà Nội khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 23 tháng tám, tại Trung bộ, Huế
khởi nghĩa. Ngày 25 tháng tám, Sài Gòn khởi nghĩa. Từ 16 đến 28 tháng tám, khởi
nghĩa đã nổ ra ở sáu mươi tỉnh trong cả nước, từ Bắc đến Nam đều thành lập
chính quyền mới.
Ngày 27
tháng tám, thành lập Chính phủ Lâm thời "Việt Nam, dân chủ cộng hòa",
đề cử Hồ Chí Minh là chủ tịch. Ngày 30 tháng tám, tại triều đình Huế, vua Bảo
Đại tuyên bố thoái vị. Cách mạng tháng Tám toàn quốc thắng lợi, ngày 2 tháng
chín năm 1945, Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Lâm thời, tại Quảng trường Ba
Đình Hà Nội, đọc bản "Tuyên ngôn độc lập", tuyên bố chấm dứt ách
thống trị tám mươi năm của thực dân Pháp và chế độ chuyên chế nghìn năm phong
kiến, đồng thời tuyên bố nước Việt Nam độc lập và thành lập nhà nước "Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa".
Con người thật của
Hồ Chí Minh
Trong Thiên I "Hài kịch
tráo rồng đổi phượng" tôi đã dành khá nhiều trang phản biện, chứng minh
Nguyễn Ái Quốc đã chết vào mùa thu năm 1932 do bệnh lao phổi. Ở Thiên II
"Ve sầu thoát xác, thật giả kiếp người", tôi cũng chỉ ra từ năm 1929
đến 1933, có hai vị Hồ Chí Minh đồng thời xuất hiện, một người là Nguyễn Ái
Quốc, còn người kia là Hồ Tập Chương. Và Thiên IV, Màn một, "Hồ Chí Minh ở
Liên Xô", tôi cũng đã làm rõ, Hồ Tập Chương tiếp tục thân phận của Nguyễn
Ái Quốc theo phương pháp "dời hoa tiếp cây" là bởi kế hoạch của Quốc
tế cộng sản, đồng thời cũng là âm mưu của lãnh đạo Trung cộng, Việt cộng và bản
thân Hồ Chí Minh phối hợp với nhau. Trong thiên này, tôi viết, Hồ Chí Minh từ
năm 1938 đến 1945, những năm tháng ở Trung Quốc đã từng bước chứng minh thân
phận của ông, chính là Hồ Tập Chương đến từ Đài Loan.
Vì sao
vào tháng mười năm 1938, Hồ Chí Minh đi hàng ngàn dặm đường xa xôi để đến căn
cứ địa Diên An mà không trở về Việt Nam? Tại nhà khách "Vườn Táo"
Diên An, Hồ Chí Minh đã mật đàm những gì với trùm đặc vụ Khang Sinh? Vì sao lại vội vàng theo Diệp
Kiếm Anh về "Cơ quan Bát lộ quân Quế Lâm"? Vì sao đến Quế Lâm lại đột
nhiên mất tích nửa tháng? Vậy trong nửa tháng ấy Hồ Chí Minh ở đâu? Trên đường
đi Quế Lâm là biên giới Việt Trung, vậy vì sao không trực tiếp về Việt Nam mà
lại theo dự "Lớp huấn luyện cán bộ du kích Hành Sơn, Hồ Nam"? Vì sao
phải nhiều lần thông qua liên lạc Trung cộng mới gặp mặt phía Việt cộng? Càng
kỳ lạ hơn nữa là, vào những năm 1938, 1939, phần lớn các bài viết của Hồ Chí
Minh đều bằng Hán văn, điều mà trước đây hầu như chưa từng có. Những chuyện này
khiến người ta không khỏi nghi ngờ là trong đó còn che giấu những chuyện bí mật
chăng?
Thực ra, thời kỳ từ năm 1938
đến 1945, Hồ Chí Minh ở Trung Quốc, lãnh đạo cao cấp Trung cộng đã biết rõ về
lai lịch của ông, nhưng vì lợi ích tối cao của Đảng Cộng sản, ngoài việc giúp
đỡ Hồ Chí Minh tạo ra một nước Việt Nam cộng sản độc lập, Trung cộng luôn che
giấu thân phận Hồ Chí Minh nhằm mạo dụng thân phận Nguyễn Ái Quốc. Vì thế,
những hồ sơ, tài liệu có liên quan đến lai lịch Hồ Chí Minh trong thời kỳ này
đều không hợp tình hợp lý, không phản ánh dúng diện mạo lịch sử, cho dù chúng
đã được các học giả nổi tiếng viết thành truyện ký, tiểu sử, tuy vậy, tất cả
đều là những lầm lẫn lớn, hoặc vô tình,
hoặc cố ý, biến Hồ Tập Chương thành Nguyễn Ái Quốc, tạo nên một huyền thoại Hồ Chí
Minh lừa dối người đời.
Hồ Chí Minh chấp hành "nhiệm vụ bí mật"
Mùa thu
năm 1938, vào thời điểm Hồ Chí Minh rời khỏi Mạc Tư Khoa,
Liên Xô và chính phủ Quốc dân đảng lại tái lập đồng minh. Từ tháng Tám năm 1937, hai bên đã
lần lượt gặp nhau tại Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh ký hiệp định không xâm
phạm lẫn nhau, đồng thời xúc tiến hợp tác hai đảng Quốc Cộng lần thứ hai đề chống
lại quân đội Nhật xâm nhập Trung Quốc.
Từ năm 1939 đến 1944, Hồ Chí Minh hoạt động ở vùng tây nam
Trung Quốc, rõ ràng là thực hiện nhiệm vụ Quốc tế cộng sản giao phó khuếch
trương thanh thế hai đảng Trung -Việt, thống nhất chiến tuyến chống phát xít Nhật.
Lúc này, Liên Xô phải đối mặt với sự uy hiếp của quân đội Nhật, ngoài việc viện
trợ cho chính phủ Tưởng Giới Thạch 300 đến 450 triệu rúp để thiết lập mặt trận
chống phát xít, còn lại là chuyển giao vũ khí, khí tài quân sự. Đúng vào thời
điểm và hoàn cảnh này, Hồ Chí Minh rời khỏi Mạc Tư Khoa đến Trung Quốc thực hiện
nhiệm vụ của Quốc tế cộng sản.
Vậy thì Quốc tế cộng sản đã giao cho Hồ Chí Minh nhiệm vụ
bí mật gì? Không có bất cứ một nguồn thông tin công khai nào cho biết một cách
đầy đủ nhiệm vụ ấy. Sau này, theo báo cáo của Hồ Chí Minh gửi các "Ủy viên
Trung ương hội" và Quốc tế cộng sản, chẳng ngại "Chỉ thị 7 điểm"
hay "8 điểm", đều không triển khai việc thanh trừng các phần tử
Troskism, không khai triển trận tuyến liên hợp chống phái Trosky giữa Trung cộng và Việt cộng. Vậy
mà, một năm sau, Hồ Chí Minh dựa vào trí nhớ, gửi Quốc
tế cộng sản một bản báo cáo bằng Hán văn: "Khi tôi ở Diên An làm kẻ lữ
hành, những ghi chép kẹp giữa bản chỉ lệnh về công tác chính trị của Quốc tế cộng
sản bị mất, cho nên, bắt buộc phải căn cứ vào trí nhớ để báo cáo công
tác".
Có
phải Hồ Chí Minh bị mất tài liệu thật hay ông ta chỉ mượn cớ để tránh né? Tôi
thật sự nghi ngờ, chỉ lệnh công tác có hay không có một điều "Yêu cầu đồng
chí Hồ Chí Minh đến Quân khu Quảng Châu của Nhật Bản"? Mật lệnh này liên quan đến thân phận chân
chính Hồ Chí Minh và những hoạt động của Hồ Chí Minh sau khi ông mất tích tại
miền nam nửa tháng.
Sự mất tích nửa tháng kỳ lạ của Hồ Chí Minh
Các tài liệu trong và ngoài
nước đều ghi chép rõ, tháng mười năm 1938, Hồ Chí Minh đến Diên An, sau khi
nghỉ ngơi 2 tuần lại cùng quân đội Diệp Kiếm Anh hỏa tốc đến Cơ quan Bát lộ
quân Trung công ở Quế Lâm Quảng Tây vào cuối tháng mười hai cùng năm. Giả thiết
trung tuần tháng mười hoặc cuối tháng mười, Hồ Chí Minh xuất phát từ Diên An,
hành trình được dự tính là nửa tháng, thế nhưng mãi đến cuối tháng mười hai mới
đến Cơ quan Bát lộ quân Trung cộng Quế Lâm. Như vậy, từ đầu tháng mười một đến
cuối tháng mười hai, ít ra thời gian cũng gần nửa tháng, Hồ Chí Minh mất tích
một cách thần bí.
Thời gian nửa tháng này, Hồ
Chí Minh dến nơi nào, làm những việc gì, đều chưa thấy được ghi chép trong bất
cứ tài liệu nào. Liệu có phải Hồ Chí Minh thực hiện chỉ lệnh thần bí của Quốc
tế cộng sản? Từ Mạc Tư Khoa, Hồ Chí Minh đi một chặng đường dài vất vả đến Diên
An gặp trùm đặc vụ trùm đặc vụ Khang Sinh bàn mưu tính kế gì? Vội vàng theo Diệp
Kiếm Anh đến Cơ
quan Bát lộ quân Quế Lâm Quảng Tây gặp người chủ trì cơ quan đặc vụ Lý Khắc
Nông bàn những chuyện gì? Những cuộc gặp gỡ giữa Hồ Chí Minh với Chu Ân Lai,
Diệp Kiếm Anh, Lý Khắc Nông mật bàn những vấn đề gì? Và, trong nửa tháng mất
tích Hồ Chí Minh ở đâu?
"Đài Loan nhật nhật tân báo"
Từ tháng mười một đến tháng
mười hai năm 1938, Hồ Chí Minh đột nhiên mất tích nửa tháng, trong nửa tháng
này, thật kỳ diệu, tôi tìm được trong "Đài Loan nhật nhật tân báo".
Liên kết "Đài Loan Nhật nhật tân báo" với ngày tháng Hồ Chí Minh mất
tích, tôi đã tìm được câu trả lời rõ ràng. "Đài Loan nhật nhật tân
báo" số ra ngày 12 tháng 11 năm 1938 có bài viết: "Thông dịch viên
quân đội Nhật là Hồ Tập Chương, người gốc Đài Loan, đã trốn khỏi nhà ngục Nam
Thạch Đầu, Hà Nam (Quảng Châu). Sau khi tạm trú tại bản doanh quân đội Nhật Ōta,
ông được tuyển vào làm thông dịch cho quan chỉ huy Nhật Bản Quân khu Quảng Đông
Tiểu Lạp Nguyên Thái Úy(4). (Tác giả nhận định: thông dịch tức là
phiên dịch).
Nhận
định hoạt động trong nửa tháng mất tích của Hồ Chí Minh, có liên quan đến việc Hồ Tập Chương làm thông dịch
cho quân đội Nhật ở Quảng Châu hoàn toàn không phải là võ đoán hoặc tùy ý bịa
đặt. Trong tay tôi có những chứng cứ tương đối sát thực để khẳng định Hồ Chí
Minh là Hồ Tập Chương. Từ việc Hồ Chí Minh tại Liên Xô bị cưỡng chế học tập cải
tạo 5 năm, vì sao đến mùa thu năm 1938, vào lúc quân đội Nhật chiếm đóng Quảng
Châu mới đột nhiên để Hồ Chí Minh rời khỏi Mạc Tư Khoa? Sau khi vượt ngàn dặm
xa xôi trở về Trung Quốc gặp trùm đặc vụ
Khang Sinh, Diệp Kiếm Anh, Lý Khắc Nông, Chu Ân Lai hội đàm mật, Hồ Chí
Minh lại đến Cơ quan Bát lộ quân Trung cộng Quế Lâm. Đặc biệt lúc ấy, trên dọc
các tuyến đường Quế Lâm, Liễu Châu Quảng Tây, quân đôi các nước Trung, Nhật,
Pháp, Việt đang tranh chấp nhau. Quân cảnh, đặc vụ, gián điệp đủ loại thường
xuyên bắt giữ, tra hỏi những đối tượng khả nghi. Trong khi ấy, một người không
thuộc dường đi lối lại như Hồ Chí Minh làm sao dám công nhiên đi Quế Lâm?
Chuyện này chỉ có một cách giải thích hợp lý là, Hồ Chí Minh thực hiện
"nhiệm vụ bí mật" của Quốc tế cộng sản. Nhiệm vụ này phải tuyệt đối
giữ kín. Một khi bí mật bị bại lộ, thân phận thực của Hồ Chí Minh cũng bại lộ
theo. Vì thế, Quốc tế cộng sản, Trung cộng và Việt cộng luôn tìm cách giấu nhẹm
bí mật này mà cho đến nay vẫn còn là một nghi án nằm trong bóng tối.
Vậy nhiệm vụ bí mật mà Hồ Chí
Minh phải thực hiện là gì? Và Quốc tế cộng sản đã giao cho Hồ Chí Minh bao
nhiêu nhiệm vụ bí mật?
Từ các chứng cứ ta có thể xác
định theo hướng sau: Được nhân viên đặc tình giúp đỡ, Hồ Chí Minh thâm nhập vào
Quân khu Quảng Châu của quân đội Nhật, tìm hiểu những hoạt động của chúng để
báo cáo cho Quốc tế cộng sản. Về sự kiện này, giáo sư William
J. Duiker, trong "Truyện Hồ Chí Minh" đã viết: "Hồ Chí Minh báo
cáo về Mạc Tư Khoa nhưng hoạt động của mình tại Trung Quốc, đó là nhiệm vụ
chính". Quốc tế cộng sản vì sao lại giao nhiệm vụ này cho Hồ Chí Minh? Căn
cứ vào tình hình lúc ấy mà phân tích, kết hợp với bản tin trên "Đài Loan nhật nhật tân
báo", có thể suy đoán như sau:
1 - Tìm hiểu những hoạt động
của quân đội Nhật làm tài liệu tham khảo cho Quốc tế cộng sản và Đảng Cộng sản
Liên Xô. Như bài viết của Hồ Chí Minh trên tờ "Cứu vong nhật báo"
Quảng Tây ngày 18 tháng mười hai năm 1940: "Việt Nam phục quốc quân hoàn
thị mại quốc quân", có thể chứng minh, sau năm 1931, Trần Văn An, từng là
Bộ trưởng ngoại giao Chính phủ Mãn Châu, sau năm 1938 Quảng Châu thất thủ, ông
ta quay về vùng biên giới Quảng Đông - Việt Nam hoạt động. Cuối tháng chín năm
ấy, Nhật Bản xâm chiếm Việt Nam, Nguyễn Cường Để, Trần Văn An theo sau quân
Nhật về hoạt động tại vùng Lạng Sơn-Cao Bằng. Trước mắt, quân đội Nhật còn bị
Anh, Mỹ, Nga ngăn trở, chưa dám xâm phạm Việt Nam nhưng vẫn nhòm ngó một cách
thèm khát nguồn tài nguyên phong phú trên lãnh thổ của họ, nên đã tìm cách chiêu
mộ Việt gian, mục đích nhiễu loạn dân tâm, mượn cớ đưa quân vào Việt Nam. Việc
này, lẽ nào không phải do Hồ Chí Minh thâm nhập vào Quân khu Quảng Châu thu
thập thông tin tình báo? (Xem thêm bài trong "Cứu vong nhật báo",
chuyên đề 11 thiên).
2 - Hồ Chí Minh có đủ điều
kiện, năng lực chọn một phụ nữ tuyệt đẹp để thực hiện nhiệm vụ đặc biệt. Căn cứ
vào "Đài Loan nhật nhật tân báo", Hồ Tập Chương tuyển chọn những
thanh niên ưu tú Đài Loan đến quân đội Nhật Bản để huấn luyện gián điệp, sau đó
phái đến các vùng hậu địch Trung Quốc để thu lượm thông tin tình báo. Hồ Tập
Chương vốn sinh ra ở quận Miêu Lật, châu Tân Trúc, đã tốt nghiệp Khoa Hóa học,
Đại học Công nghiệp Đài Bắc, thầy hướng dẫn là tiên sinh Tatara.
Chỉ huy tối cao quân đội Nhật tại Quân khu Quảng Đông là Tiểu Lạp Nguyên Thái
Úy (小笠原太尉), những năm trước đã từng chỉ huy quân đội Nhật
ở Đài Loan, với Tatara (Đa Điền La) là chỗ quen biết. Tôi dẫn ra hai sự kiên
trên để chứng minh, Hồ Chí Minh thực hiện mật lệnh không phải do hai người này
tuyển chọn. Khả năng tiếng Nhật của Hồ Chí Minh đã được trang bị từ trước. Ông
hiểu rất rõ tình hình Nhật bản, phân tích thông tin có cơ sở khoa học, lại ở
ngay Bộ chỉ huy Quân khu Quảng Châu, đồng thời được cơ quan đặc vụ Trung cộng yểm hộ nên mọi công
việc tiến hành khá thuận lợi. Như vậy mới có thể giải thích, vì sao Quốc tế
cộng sản chuẩn y cho Hồ Chí Minh rời khỏi Mạc Tư Khoa, cấp thời cùng Diệp Kiếm
Anh đến Cơ quan Bát lộ quân Quế Lâm cùng Khang Sinh, Diệp Kiếm Anh, Chu Ân Lai,
Lý Khắc Nông mật đàm. Đây chính là nguyên nhân khi Hồ Chí Minh đến cơ quan đặc
vụ của Lý Khắc nông thì đột nhiên mất tích nửa tháng, tạo nên những nghi vấn
khó giải thích.
Quy nạp từ "Đài Loan nhật
nhật tân báo", đặc phái viên Quảng Châu Tấn Trung ngày 12, 18, 21 tháng
mười một và ngày 7 tháng mười hai năm 1938 tại "Đài Loan nhật nhật tân
báo", có những điểm chủ yếu liên quan đến Hồ Tập Chương như sau:
1 - Hồ Tập Chương tuyển chọn
các thanh niên ưu tú từ Đài Bắc, Tân Trúc, Đài Trung, Đài Nam, Cao Hùng đến học
tại "Trung tâm huấn luyện gián điệp Nhật Bản". Sau khi mãn khóa, vào
ngày 8 tháng... năm... được cử đến các vùng hậu địch của Trung Quốc hoạt động
tình báo. Hồ Tập Chương vốn là người trang Đồng la, quận Miêu Lật, châu Tân
Trúc, Đài Loan, tuổi 38, tốt nghiệp Khoa Hóa học ứng dụng, Đại học Công nghiệp
Đài Bắc. Bài đăng kèm một tấm ảnh Hồ Tập Chương rất mờ.
2 - Vào năm Thiên Hòa thứ năm
(1930), Hồ Tập Chương bất chấp nguy hiểm tính mệnh, từ biệt vợ con đến Quảng
Đông thực hiện lý tưởng cúa mình. Ông từng mở xưởng sản xuất hương chống muỗi,
hương sợi và nấu rượu, cũng từng cư trú ở khu Nam Đường đối ngạn với Quảng Châu
làm kỹ sư khai thác, phân tích và giám định quặng của công ty khai thác quặng
Nam Phương thực nghiệp.
3 - Sự kiện "Song
thất" bùng nổ, Hồ Tập Chương bị quân đội Quốc dân đảng bắt với tội danh
Hán gian, ông nhận là người Trung Quốc nên được thả, sau đó có người mật báo,
ông là người Nhật nên lại bị bắt tống giam vào nhà lao Nam Thạch Đầu, Hà Nam.
Lúc ấy, quân đội Nhật bất ngờ đột kích vào vùng tây nam duyên hải, chiếm đóng
Quảng Châu, quân đội Trung Quốc thất bại thảm hại, Hồ Tập Chương thừa cơ trốn
khỏi nhà giam về khu Nam Đường. Nhà giam Nam Thạch Đầu nhốt hai nghìn tù nhân,
phần lớn là những kẻ bị tình nghi gián điệp Nhật, trước khi quân đội Nhật đột
kích dã bị thảm sát.
4 - Khi Hồ Tập Chương thoát
khỏi ngục về khu Nam Đường, lại bị quân đội Nhật của Ota tuần tra phát hiện.
Ông ta nói rõ về thân phận mình, liền được đưa đến Bộ chỉ huy tối cao Quân khu
Quảng Đông của tướng Tiểu Lạp Nguyên Thái Úy làm thông dịch viên. Tiểu Lạp Nguyên
Thái Úy từng đóng quân ở Đài Bắc, sau sự biến "Song thất" về Nhật, ít
lâu sau gia nhập bộ đội Kawaguchi, được phái sang Quảng Châu. Hồ Tập Chương:
"Tôi có một người thầy giảng dạy ở Đại học Công nghiệp Đài Bắc là ngài
Ota. Tôi rời quê hương đã 4, 5 năm, từng bị giam giữ trong nhà tù hơn một năm,
có thời kỳ làm việc khai mỏ quặng ở vùng núi Lưỡng Quảng, hiện tại cuộc sống
rất là khó khăn". Phái viên Tân Trung theo dõi quá trình hoạt động của Hồ
Tập Chương, đặc biệt nhấn mạnh: "Trước mắt Hồ Tập Chương sống trong quân
đội. Ông ta chỉ có một mình, nên trọng dụng, sẽ rất được việc".
Sau khi tin tức trên báo chí
Đài Loan truyền đến, Đài Loan tổ chức đoàn Ủy vấn đến Quảng Châu thăm Hồ Tập
Chương. Người anh thứ tư của Hồ Tập Chương là Hồ Tập Phỉ đã viết thư đặc biệt
cảm ơn "Đài Loan nhật nhật tân báo". "Đài Loan nhật nhật tân báo
năm Chiêu Hòa thứ mười ba (1938), tháng mười một và tháng mười hai có đăng tải
4 bài về Hồ Tập Chương. Dưới đây là ảnh chụp từ tờ báo đã được cắt ra.
Hồ Tập Chương thoát khỏi nhà giam ngày 12
tháng 11 năm 1938
Nhà giam Nam Thạch Đầu Hà Nam
"Đài
Loan nhật nhật tân báo" số ra các ngày từ 19 tháng mười một đến ngày 7
tháng mười hai năm 1938 đã đăng tải các bài có liên quan đến Hồ Tập Chương ở Quảng Châu từ tháng mười một
đến tháng mười hai năm 1938, bị mất tích ở Quế Lâm nửa tháng. Tại thời gian
trên, địa điểm trên có mối liên hệ nhân quả với nhau, phù hợp một cách bất bình
thường. Hơn nữa, lại có "Đài Loan nhật nhật tân báo" với những chứng
cứ trực tiếp để khẳng định Hồ Tập Chương và Hồ Chí Minh chỉ là một người. Trong
đó, chứng cứ quan trọng nhất chính là sự kiện Hồ Tập Chương bị bắt giữ tại nhà giam tại nhà lao Nam Thạch
Đầu, Hà Nam, và sự kiện Hồ Chí Minh bị bắt giam ở nhà ngục Quảng Châu. Hai sự kiện này thực chất
chỉ là một.
"Đài Loan nhật nhật tân
báo" đưa tin Hồ Tập Chương bị bắt giam tại nhà ngục Nam Thạch Đầu, Hà Nam,
vậy rốt cuộc, dịa danh Hà Nam là ở đâu? Căn cứ vào "Lịch sử đảng bộ Đảng
Cộng sản thành phố Quảng Châu", thì Hà Nam chính là bờ phía nam sông Châu,
nhà giam Nam Thạch Đầu nằm trên đường phố Nam Thạch Đầu, thành phố Quảng Châu.
Nhà giam Nam Thạch Đầu được thành lập vào thời kỳ phái phản động Quốc dân đảng
thống trị. Đây là Nhà giam lớn duy nhất Quảng Châu, còn gọi là "Trại trừng
giới". Ngày 15 tháng tư năm 1927, sau cuộc dảo chính phản cách mạng, phái
phản động Quốc dân đảng đã bắt một số lớn phần tử cộng sản và dân chúng đem về
giam giữ tại đây, trong đó có những nhân vật nổi tiếng của Đảng Cộng sản như
Lưu Nhĩ Tung, Thẩm Tĩnh Trai, Tống Thời Luân, Tiêu Sở Nữ, Hùng Hùng, Lý Sâm,
Đặng Bồi v. v...
Nói rằng, "khoảng thời
gian từ tháng mười một đến tháng mười hai, Hồ Chí Minh bí mật đến Quảng Châu,
trà trộn vào quân đội Nhật", tuy nhiên đó lại là mưu kế đã được bàn bạc kỹ
giữa Hồ Chí Minh và ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc, chỉ là vì Hồ Tập
Chương bị giam giữ tại nhà ngục Nam Thạch Đầu, Hà Nam, rốt cuộc sự thực sờ sờ
trước mắt, không thể bác bỏ.
Tại
Thiên III "Ve sầu thoát xác, thật giả kiếp người", tôi dã dẫn ra một
đoạn "Hồi ký Trịnh Siêu Lân": "Mùa hè năm 1931, Phó Đại Khánh ở
nhà giam Quảng Châu gặp Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh nhờ Phó Đại Khánh chuyển lời
đề nghị Đảng Cộng sản Trung Quốc tìm cách giải cứu". (Xem thêm: "Lịch
sử và hồi ức - Ghi chép cuối đời của Trịnh Siêu Lân", quyển 2 "Truyện
Phó Đại Khánh" trang 506, hoặc tham khảo "Hồi ức Trịnh Siêu
Lân", trích yếu như phụ lục 2). Mùa hè năm 1931, Phó Đại Khánh bị giam ở
nhà lao Nam Thạch Đầu, Hà Nam có gặp Hồ Chí Minh, tự nghĩ là, đây không thể nào
là Nguyễn Ái Quốc, Thời gian ấy, Nguyễn Ái Quốc đang bị giam tại nhà tù
Victorria Hương Cảng, không thể đồng thời lại bị giam ở nhà ngục Nam Thạch Đầu.
Vì thế vị "Hồ Chí Minh" bị giam ở đây nhất dịnh phải là Hồ Tập
Chương. Cả Trịnh Siêu Lân và Phó Đại Khánh đều là đảng viên Đảng Cộng sản Trung
Quốc thuộc phái Troskism. Thời kỳ đầu kháng chiến chống Nhật, Phó Đại Khánh bị
hiến binh Nhật sát hại, Trịnh Siêu Lân bị giam trong ngục, hưởng thọ 98 tuổi.
Trước
sau năm 1930, Hồ Tập Chương nhận nhiệm vụ tại "Liên
minh mậu dịch Thái Bình Dương", là liên lạc viên của Cục Viễn Đông Quốc tế
cộng sản, do đó đã sớm có mối quan hệ mật thiết với các đảng viên Đảng Cộng sản
Trung Quốc, quen biết cả Trịnh Siêu Lân và Phó Đại Khánh. Hai người này nhất định nhận ra Hồ Chí
Minh chính là Hồ Tập Chương, chỉ có cái tên khác nhau mà thôi.
Trong bài "Mối tình sống
chết giữa Hồ Chí Minh và Lâm Y Lan", Lương Ích Tân có viết một đoạn
"Ẩn trốn tại Quảng Châu, tránh bị truy bắt" như sau:
"Năm 1930, Tưởng Giới Thạch điều động quân đội Quốc dân đảng bao vây tiễu trừ Hồng quân khu Giang Tây Tô, đồng thời ra lệnh cho các địa phương khẩn trương
truy bắt các phần tử cộng sản. Dương Thành (Quảng Châu) cũng không ngoại lệ. Hồ Chí Minh lúc này đang ở Quảng Châu. Nơi đây, trước đó
do nhu cầu công tác, ông đã mấy lần về Việt Nam,
tuy nhiên, lần này thì khác, Hồ Chí Minh bị đặc vụ truy
đuổi ráo riết, không chốn nương thân, chỉ còn cách liên lạc với Tỉnh ủy Quảng
Đông nhờ giúp đỡ. Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông Đào Chú đã bố trí một nữ đảng viên
là Lâm Y Lan, đóng giả làm vợ Hồ Chí Minh để bảo vệ an toàn
cho ông ta".
Tiếp đến mục "Lâm Y Lan lấy tư cách là vợ" đã chăm sóc Hồ Chí Minh trong sinh hoạt thường ngày vô cùng tận tình,
chu đáo làm cho ông đặc biệt cảm kích, đã có lúc muốn thổ lộ tình
cảm, nhưng vì thời cơ chưa chín muồi nên trong lòng vẫn trù trừ. Lâm Y Lan thấy Hồ Chí Minh nói với mình
những lời chân thành, thâm tâm đã có phần ưng ý, nhưng vì là phận nữ nhi, không
tiện nói ra. Không
lâu sau, do bị một đồng chí phản bội, Hồ Chí Minh bị bắt. Lúc chia tay, Hồ Chí Minh
ôm lấy Lâm Y Lan, dùng khăn tay lau nước mắt cho nàng : “ Hãy cứng rắn lên, đừng để kẻ thù cười chúng ta
mềm yếu”, nói rồi lấy quyển nhật ký đưa cho Lâm Y Lan
: “ Tâm sự của tôi đều ở trong này, sẽ cùng đi với em”. Tiếp đó là "Trong hoạn
nạn mới thấy lòng thành", một lần nữa tác giả kể lại: "Ba ngày sau khi Hồ Chí Minh được cứu thoát, Lâm Y Lan
nhìn đăm đăm vào khuôn mặt hốc hác của ông, hỏi : “Chí Minh, sao không đợi muội đến đón?”. Theo lời Lương Ích Tân tường thuật lại, ta sẽ thấy
rất rõ, đây là những ghi chép về Hồ Chí Minh thời kỳ đầu những năm 1930, chính
xác là bị Quốc dân đảng Quảng Châu bắt giữ, mà không phải là Nguyễn Ái Quốc bị
cảnh sát Hương Cảng bắt giữ. (Xem thêm Thiên V "Khúc ca buồn về tình yêu
và hôn nhân".
Tại "Đài Loan Quốc hoa
thư tịch", năm 1946, Ngô Trọc Lưu xuất bản cuốn "Hồ Chí Minh"
bằng tiếng Nhật, sau này, khi dịch sang Trung văn, lấy tên là "Đứa con côi
châu Á". Tại Thiên 3 gồm các chương "Xuân lành", "Bị
giam", "Thoát ngục", tác giả có chèn lẫn vào một đoạn sử liệu về
tình yêu giữa Hồ Chí Minh và Lâm Y Lan khi ông ta bí mật đến Quảng Châu. Đọc kỹ
những tư liệu này cùng những tư liệu ghi chép về Hồ Tập Chương người Đài Loan,
độc giả sẽ thấy ngay đó là Hồ Chí Minh ở Việt Nam (Xem bài báo "Hồ Chí
Minh của Ngô Trọc Lưu Đài Loan").
Theo "Đài Loan nhật nhật
tân báo", từ năm 1938 và "Hồ Chí Minh" của Ngô Trọc Lưu tại Đài
Loan năm 1946, đều có ghi chép sự kiện Hồ Tập Chương bị bắt giữ ở Quảng Châu.
Trong bài "Mối tình sống chết giữa Hồ Chí Minh và Lâm Y Lan" (Hồi ký
Trịnh Siêu Lân) viết cũng có sự kiện Hồ Chí Minh bị bắt ở Quảng Châu. Những tư
liệu này đều chứng minh Hồ Tập Chương tức là Hồ Chí Minh, cũng chứng thực về bí
mật của dòng họ Hồ Miêu Lật, Đài Loan mấy đời truyền khẩu cho nhau, nhất định
không phải là ngụy tạo cố sự.
Năm 1938, người em út của Hồ
Tập Chương là Hồ Tập Dưỡng đã từ Đài Loan đến Quảng Châu gặp anh. Lúc ấy, Hồ
Tập Dưỡng, cũng tốt nghiệp hạng ưu Đại học Sư phạm Đài Bắc, bị quân đội Nhật
trưng dụng đưa đến Quân hạm hải quân Hương Cảng làm thông dịch. Tình cờ đọc "Đài Loan nhật nhật tân
báo", biết tin về Hồ Tập Chương đã chín năm bặt vô âm tín, vì vậy Hồ Tập
Dưỡng đã đến Quảng Châu gặp anh vào khoảng trung tuần tháng mười hai, báo tin
về người con trai là Hồ Thự Quang. Năm 1939, Hồ Chí Minh lấy bí danh là Hồ
Quang có lẽ là do nhớ đến tình cha con. Đây là lời Hồ Tập Dưỡng sau khi trở về
Đài Loan đã thông báo cho gia đình:
"Tôi phải trải qua vô
cùng khó khăn gian khổ, thậm chí còn xuống cả thuyền hải tặc mới gặp được Hồ
Tập Chương". Câu đầu tiên khi gặp tôi Hồ Tập Chương hỏi: "Tại sao chú
tìm được đến đây? Nguy hiểm lắm!". Sau khi hai anh em nói chuyện với nhau
về tình hình gia đình, Hồ Tập Chương bảo: "Tôi hiện đang làm công tác đặc
biệt, có thể nguy hiểm đến tính mạng bất cứ lúc nào". Rồi anh ấy dặn tôi
chuyển lời đến gia đình: "Không được đến đây tìm tôi nữa, sắp tới tôi sẽ
đi Vân Nam sang công tác ở Việt Nam, nếu không thành công sẽ không về
nhà".
"Đài Loan nhật nhật tân báo" và "Những
tư liệu về Nam Nhạc du kích ban"
Có một chứng cứ quan trong nữa
để chứng minh Hồ Tập Chương chính là Hồ Chí Minh. "Đài Loan nhật nhật tân
báo" đưa tin: "Hồ Tập Chương là người trang Đồng La, quận Miêu Lật,
Đài Loan. tuổi 38". Cách đây không đến nửa năm, Ban huấn luyện cán bộ du
kích Nam Nhạc, Hồ Nam có in cuốn sách nhỏ nhan đề "Thông tin về đồng
môn", ghi danh Hồ Chí Minh, 38 tuổi là hoàn toàn phù hợp. Nếu so với
Nguyễn Ái Quốc 49 tuổi thì khoảng cách chênh lệch những 11 tuổi, sẽ là sự lầm
lẫn lớn. Vào năm 1939, Hồ Chí Minh ở Ban huấn luyện cán bộ du kích Nam Nhạc, có
đầy đủ chứng cứ ghi trong cuốn sách "Thông tin về đồng môn", đã đưa
công khai lý lịch của ông qua phần phụ lục dưới đây:
Tên họ: Hồ Quang
Chức vụ: Thiếu tá
Tuổi: 38
Quê quán: Quảng Đông
Đơn vi: Tập đoàn quân 18
Tốt nghiệp trường nào: Lĩnh Nam đại học
Từng làm công tác gì: Giáo viên trung học, hiểu trưởng trường
ngoại ngữ.
Tên họ: Hồ Quang. Hồ Quang
chính là bí danh Hồ Chí Minh từ năm 1939 đến 1942 sau khi từ Mạc Tư Khoa về
Trung Quốc. Bí danh của Hồ Chí Minh ở Liên Xô là P.C.Lin (Lin là phiên âm của
chữ "Lâm", cũng là họ bên vợ của Hồ Tập Chương tại Đài Loan Lâm Quế
muội. "P.C" thì không rõ có dụng ý gì, nhưng chữ "Quang"
trong "Hồ Quang" thì chính là tên người con trai duy nhất của ông ở
Đài Loan "Hồ Thự Quang". Gia phả họ Hồ tại Miêu Lật, Đồng La, Đài
Loan có ghi như sau: Đời thứ 21 dựa vào
hàng chứ "Tập" như Tập Trân, Tập Phỉ, Tập Chương, Tập Dưỡng v.v...
Đời thứ 22 dự vào hàng chứ "Quang" như Sùng Quang, Quan Quang, Hoán
Quang, Thự Quang v.v...
Chức vụ: Thiếu tá, nhân viên
điện đài tân văn (Tân văn đài thiếu hiệu đài viên). Hồ Quang đích thực là nhân
viên điện đài của Ban huấn luyện cán bộ du kích Nam Nhạc, Hành Sơn, Hồ Nam, phụ
trách thu thập thông tin từ các đài phát thanh. Tôi rất chú ý đến chi tiết,
chưa đầy nửa năm, sau khi theo Diệp Kiếm Anh làm cần vụ, từ một anh binh nhì,
Hồ Quang được thăng lên cấp bậc thiếu ta, điện đài viên, phụ trách thu lượm tin
tức từ các đài phát thanh. Đối chiếu với Hồ Quang trong "Thông tin về đồng
môn", ta sẽ thấy xuất hiện manh mối. Họ tên người xếp phía trước là Trần
Tử Anh, cấp bậc trung tá trưởng đài, tốt nghiệp Đại học Nhật Bản đế quốc, đơn
vị công tác là Tập đoàn quân 18. Người ở phía dưới là Tưởng Tuyết Ảnh, cấp bậc
thượng úy, đài viên, lưu học sinh tại Nhật Bản, đơn vị công tác là Tập đoàn
quân 18. Hồ Quang vốn là đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc, phụ thuộc vào Tập
đoàn quân 18. Những nhân viên chuyên môn điện đài thu thập thông tin tình báo
từ Nhật Bản đều từng học tại Nhật và thông thạo tiếng Nhật. Hồ Quang (Hồ Tập
Chương) phụ trách công việc này hiển nhiên là rất phù hợp. Tuy nhiên, ở mục "Quá
trình học tập và tốt nghiệp trường nào", Hồ Quang lại không đăng ký
"Tốt nghiệp Đại học Công nghiệp Đài Bắc". Rõ ràng, thời kỳ Nhật Bản
chiếm đóng Đài Loan, Hồ Tập Chương từng học tiểu học, trung hoạc rồi Đại học
Công nghiệp Đài Bắc, vì thế, trình độ tiếng Nhật và văn hóa Nhật của ông rất
khá.
Tuổi 38: Ngày 11 tháng mười
hai năm 1938, "Đài Loan nhật nhật tân báo" đăng tải bài viết về Hồ
Tập Chương nói ông 38 tuổi mà năm sinh đích thực của Hồ Chí Minh không phải là
năm sinh của Nguyễn Ái Quốc. Theo thông tin chính thức của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nguyễn Ái Quốc sinh ngày 19 tháng năm năm 1890, đến năm 1939 đã 49 tuổi.
Trong khi đó, giai phả họ Hồ Miêu Lật ghi, Hồ Tập Chương sinh vào giờ Thân,
ngày 11 tháng mười năm Tân Sửu, tức năm Minh Trị thứ 34, chuyển sang dương lịch
là năm 1901, vừa tròn 38 tuổi. Điều này càng chứng tỏ, Nguyễn Ái Quốc của Việt
Nam không phải là Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh chính là Hồ Tập Chương đến từ Miêu
Lật, Đài Loan.
Quê quán gốc Quảng Đông: Quê
gốc Nguyễn Ái Quốc là làng Kim Liên, xã Nam Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An,
Việt Nam. Quê gốc của Hồ Quang (Hồ Tập Chương) ở huyện Trường Lạc, phủ Huệ
Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, vì thế ông mới đăng ký nguyên quán Quảng
Đông. Là người Quảng Đông, nói tiếng Quảng Đông lưu loát, tự nhiên hợp tình hợp
lý. Dưới đây là bản phụ lục gia phả giản lược họ Hồ Miêu Lật do thân phụ Hồ Tập
Chương là Hồ Dần Lượng ghi chép:
"Đài Loan nhật nhật tân báo" và "Nhật
ký trong tù"
Hồ Tập Chương tức là Hồ Chí
Minh, nếu ta liên kết các sự kiện lại với nhau. "Đài Loan nhật nhật tân
báo" đưa tin, Hồ Tập Chương tốt nghiệp Khoa Hóa học ứng dụng, Đại học Công
nghiệp Đài Bắc, từng làm kỹ sư giám định chất lượng khoáng sản trong công ty
khai thác và tinh tuyển khoáng thạch Nam Phương thực nghiệp Quảng Đông tại tỉnh
Quảng Tây. Đối với Hồ Tập Chương, việc khai thác, tinh luyện, giám dịnh khoáng
sản chính là chuyên môn của ông. Trong khi đó, Hồ Chí Minh vào năm 1942 - 1943
bị Quốc dân đảng bắt giam 1 năm 12 ngày. Trong thời gian bị giam giữ, Hồ Chí
Minh viết tập thơ "Nhật ký trong tù", trong đó, bài thứ 28 có nhan đề
"Bạn tù nguyên chủ nhiệm L" viết:
Quốc gia phó thác giữ biên khu
Sao nhãng việc công mải việc
tư
Khoáng sản tuồn qua biên giới
hết
Nên lò đúc bạc đúc thơ tù.
Giáo sư Hoàng Tranh chú giải
bài thơ như sau: "Phía tây nam biên giới Quảng Tây có nhiều quặng
antimoine (cứng và có ánh kim), Hồ Chí Minh viết bài thơ này để bình luận về
một đồng sự đem loại quặng này bán lậu qua biên giới lấy tiền bỏ túi, chính là
hành vi tham ô phá rối kỷ cương của nguyên chủ nhiệm L.".
"Đài Loan nhật nhật tân báo" viết:
"Hồ Tập Chương từng làm kỹ sư giám định chất lượng khoáng sản trong công
ty khai thác và tinh luyện khoáng thạch (antimoine) "Nam Phương thực nghiệp
Quảng Đông" tại vùng mỏ Quảng Tây. Việc này rất phù hợp với tập thơ
"Nhật ký trong tù" của Hồ Chí Minh. "Nguyên chủ nhiệm L."
vốn là đồng sự ngày trước, vì bán trộm quặng antimoine lấy tiền bỏ túi, chẳng
may lại gặp Hồ Chí Minh tại nhà ngục Tĩnh Tây nên rơi vào hoàn cảnh khó
xử". Việc này há chẳng gián tiếp chứng thực Hồ Tập Chương và Hồ Chí Minh
cùng là một người sao?
Chấp hành mật lệnh của Quốc
tế cộng sản, Hồ
Chí Minh tìm cách thâm nhập vào Quân khu Quảng Châu Nhật Bản làm thông dịch,
thời gian khoảng 2 tháng, động cơ không hoàn toàn rõ ràng. Căn cứ vào hoàn cảnh
lịch sử lúc ấy mà nhận xét thì cũng không ngoài việc đánh cắp thông tin tình
báo của quân đội Nhật, phân tích thông tin đối ngoại của Nhật, có thể lôi kéo
được quân đội Nhật, nhờ Nhật giúp đỡ Việt Nam đánh Pháp, triển khai trận tuyến
liên hợp giữa Đảng Cộng sản và quân đội Nhật.
Thế nhưng, vào thời điểm ấy,
quân đội Nhật lại ưu tiên giúp đỡ chính quyền bù nhìn của hoàng thân Cường Để,
cho nên Quốc tế cộng sản mới sử dụng thân phận Hồ Chí Minh với mục đích thân
Nhật đã hoàn toàn thất bại. Tuy nhiên, tình thế xoay chuyển, khó ai dự đoán
chính xác được diễn biến thời cuộc, chính bởi việc Hồ Chí Minh thâm nhập vào
quân đội Nhật Quảng Đông không đạt kết quả đã bộc lộ lai lịch phức tạp của ông.
Việc này có lẽ phù hợp với câu cách ngôn "Lưới trời tuy thưa mà không lọt
", mặc cho bất cứ sự chối cãi nào.
Hồ Chí Minh có phải là người Trung Quốc?
Hồ Chí Minh là người Trung
Quốc hay người Việt Nam? Có không ít Hoa kiều ở Việt Nam coi Hồ Chí Minh là
người Việt Nam bị Trung Quốc hóa. Họ căn cứ vào lý do Hồ Chí Minh biết nói
tiếng Quảng Đông, biết viết chữ Hán, lại biết làm thơ chữ Hán, từ đó cho rằng
tổ tiên ông là người Trung Quốc di cư sang Việt Nam, vì vậy đương nhiên là
người Trung Quốc.
Những nhận định này, về cơ bản
đều không giải thích được tiểu sử của Nguyễn Ái Quốc, bởi họ chịu ảnh hưởng của
các phương tiện truyền thông chính thống nhà nướcViệt Nam khẳng định Nguyễn Ái
Quốc biết nói tiếng Hán và làm thơ chữ Hán. Từ năm 1938 đến 1945, sau khi Hồ Chí
Minh đến Trung Quốc, đã hoàn toàn biến thành một người khác, hầu như không còn
bóng dáng Nguyễn Ái Quốc . Hồ Chí Minh chưa từng mở miệng nói tiếng Việt, thậm
chí tự mình cũng không hiểu tiếng Việt, trái lại, nói tiếng Quảng Đông rất
thành thạo hoặc dùng tiếng phổ thông nói chuyện với mọi người. Hồ Chí Minh cũng
không dùng tiếng Pháp hoặc tiếng Việt viết văn, trái lại, đều sử dụng Hán ngữ
với số lượng lớn trong các bài viết chuyên đề, chuyên luận, bao hàm cả 134 bài
thơ trong tập "Nhật ký trong tù". Càng kỳ lạ hơn là, Hồ Chí Minh dùng
chữ Hán viết thư gửi về Việt Nam, lại được các báo, tạp chí Việt Nam dịch sang
tiếng Việt và tiếng Pháp, rồi phổ biến khắp các địa phương, tuyên truyền Trung
Quốc kháng Nhật cùng những hoạt động của phái Troskism tại Trung Quốc. Hơn thế
nữa, Hồ Chí Minh còn không dám thừa nhận
mình là Nguyễn Ái Quốc, chỉ biểu thị thái độ ba phải, tự cho mình là Hoa kiều.
Hồ Chí Minh đã từng gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc, tham gia lớp huấn luyện
cán bộ du kích của quân đội Trung Cộng. Tất cả những thái độ khác thường, những
hành vi không phù hợp đạo lý trên, tác giả chỉ có thể giải thích, từ năm 1938
đến năm 1945, Hồ Chí Minh hoạt động ở
Trung Quốc không phải là Nguyễn Ái Quốc người Việt Nam. Liên quan đến khả năng
nghe, nói, đọc và viết chữ Hán, tôi đã trình bày trong Thiên V, nhan đề
"Chữ Hán, 'Nhật ký trong tù' và 'Di chúc'”. Ở phần này, thời gian từ năm
1938 đến năm 1945, Hồ Chí Minh hoạt động tại Trung Quốc, tôi đã đưa ra những tư
liệu để so sánh, đối chiếu, xem xét, vậy rốt cuộc, Hồ Chí Minh là người Trung
Quốc hay người Việt Nam?
Bảy bức thư từ Trung Quốc
Từ tháng mười hai năm 1938 đến
tháng sáu năm 1939, Hồ Chí Minh lấy tư cách ký giả Trung Quốc, bí danh P.C.Lin,
qua phương thức "Thư từ nước ngoài", viết bằng chữ Hán (bản thảo viết
tay), từ Quảng Tây gửi về Hà Nội: "Người Nhật Bản muốn khai hóa Trung Quốc
như thế nào?" (tháng mười hai năm 1938), "Thư gửi từ Trung Quốc"
(tháng hai năm 1939), "Thư gửi từ Trung Quốc" (tháng ba năm 1939),
"Chủ nghĩa anh hùng của nhân dân Trung Quốc chống Nhật" (tháng tư năm
1939), "Thư gửi từ Trung Quốc" (tháng tư năm 1939), "Thư gửi từ
Trung Quốc" (tháng năm năm 1939), "Thư gửi từ Trung Quốc" (tháng
sáu năm 1939)... trong đó có một bài "Nhật Bản khai thác Trung Quốc như
thế nào?" dài khoảng hai nghìn chữ. Tạp chí bằng tiếng Pháp "Tiếng
nói của chúng ta", số ra ngày 12 tháng hai năm 1939 có đăng bài viết này
nhưng nhan đề đã được đổi thành "Các hành động tàn bạo của đế quốc Nhật
Bản". Tờ báo tiếng Việt "Dân chúng" kỳ 46, ra ngày 21 tháng
giêng năm 1939, kỳ 47, ngày 24 tháng giêng năm 1939 và kỳ 48, ngày 28 tháng
giêng năm 1939 dã đăng toàn văn bản dịch này.
Hồ Chí Minh lấy tư cách ký giả
Trung Quốc, bút danh P.C.Lin thông qua phương thức"Thư gửi từ nước
ngoài", gửi 7 bài bằng chữ Hán đến Việt Nam. Những sự việc bất bình thường
này làm các nhà nghiên cứu bắt buộc phải chú ý. Hồ Chí Minh lấy bí danh
P.C.Lin, việc này chứng tỏ, Hồ Quang đã ở Trung Quốc năm 1939 và P.C.Lin vào
đầu năm 1934 ở Mạc Tư Khoa chỉ là một người. Trong khi ấy, theo hồ sơ lưu trữ
tại Mạc Tư Khoa thì, P.C.Lin lại là Nguyễn Ái Quốc, người Việt Nam, vậy thì tại
sao ông ta lại đến Quế Lâm trong vai ký giả Hoa kiểu? Nguyễn Ái Quốc bỗng nhiên
không biết dùng tiếng Việt, chữ Việt để viết văn mà bắt đầu viết những bài
trường thiên đại luận bằng chữ Hán. Không những thế, phong cách văn chương, nội
dung diễn đạt đều khác xa với cách viết của Nguyễn Ái Quốc trước đây, càng kỳ
lạ hơn, khi mà trong nội dung các bài viết, nhiều lần xuất hiện cụm từ
"Tôi là người Trung Quốc", "Tôi không hiểu tiếng Việt Nam".
Nếu so với thời kỳ năm 1925 -
1926, Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Châu viết 88 bài xã luận bằng tiếng Pháp đăng trên
báo "Thanh niên" thì có vẻ như phong cách khác nhau rất xa. Thật sự
không thể biết vì sao đột nhiên ông lại thành thục Hán ngữ như vậy? Trong 7 bài
viết, trừ 2 bài lên án hành vi xâm lược tàn bạo của đến quốc Nhật, 5 bài còn
lại dưới hình thức "Thư gửi từ Trung Quốc", một bài viết về tình hình
kháng chiến chống Nhật của nhân dân Trung Quốc, một bài kiểm điểm quá trình
hoạt động quân sự ở Việt Nam, 3 bài giới thiệu chủ nghĩa Trosky và những hoạt
động của phái Troskism ở Trung Quốc. Văn chương sử dụng kiểu xưng hô là
"Bạn bè của chúng tôi" hoặc "Các bạn thân mến", cuối bài ký
tên P.C.Lin. Xin trích lục một đoạn ở thiên thứ nhất "Nhật Bản muốn khai
thác Trung Quốc như thế nào?". Phần đầu, Hồ Chí Minh viết: "Thân là
người Trung Quốc, nếu như tôi nói tôi đã nhìn thấy tận mắt những hành vi tàn
bạo của quân đội Nhật Bản, thì có lẽ người ta sẽ cho là nói quá lên. Vì vậy,
xin trích lời một ký giả ngoại quốc đã viết về các hành vi bạo ngược của quân
đội Nhật Bản. Bài báo này đã được in trong "Ý nghĩa của chiến tranh, sự
bạo hành của quân đội Nhật Bản ở Trung Quốc", để báo cáo với các bạn.
Ngoài ra, tôi còn kèm thêm một số bài đă đăng tải trên những tờ báo rất có uy
tín, trong đó có lời kể của các vị tư lệnh Tân Tứ quân và Bát Lộ quân nhân dân
cách mạng".
"Người Nhật Bản muốn khai
thác Trung Quốc như thế nào?". Từ "khai thác" là theo bản tiếng
Việt trong "Hồ Chí Minh toàn tập" được chuyển từ Hán ngữ. Giáo sư
Hoàng Tranh trong tác phẩm "Hồ Chí Minh ở Quảng Tây" đã trực tiếp
đăng lại nguyên văn "Nhật Bản muốn khai hóa Trung Quốc như thế nào?' mà
không lưu ý đến hai từ "khai thác" và "khai hóa", như vậy
không phù hợp với cách dùng từ của Trung văn. Chẳng những thế, phần nội dung
lại chèn thêm những cụm từ "Tư lệnh Nhật Bản nói", "Tình hình
quân đội Nhật Bản chứng tỏ" v.v... Tôi rất lấy làm lạ, Nguyễn Ái Quốc vào
thời gian nào học tiếng Nhật, tiếp xúc với văn hóa Nhật mà có những bài viết
sâu sắc như vậy?
Bảy bản báo cáo
gửi Quốc tế cộng sản
Từ
ngày 20 tháng tư năm 1939 đến 12 tháng bảy năm 1940, Hồ Chí Minh gửi Quốc tế cộng
sản Mạc Tư Khoa 7 bản báo cáo. Trên đầu các báo cáo đều xưng là Ủy viên hội Quốc
tế cộng sản Phương Đông hoặc Ủy viên chấp hành Quốc tế cộng sản, cuối bài ký
tên P.C.Lin, hoặc phụ thêm cam kết "Tiếng nói của chúng ta". Có bản
viết bằng tiếng Pháp, có bản viết bằng chữ Hán, nội dung báo cáo về tình thế
cách mạng Việt Nam, sự phát triển cũng như hoạt động của phái Troskism tại
Trung Quốc. Trong số này, có một báo cáo đề ngày 12 tháng bảy năm 1940, dùng tiếng
Trung, dài 12 trang, ký tên P.C.Lin, gửi Ủy viên Phương Đông hội Mạc Tư Khoa mà
trước đây, các báo cáo gửi đến Quốc tế cộng sản chưa bao giờ Nguyễn Ái Quốc
dùng Trung văn. Từ nội dung văn bản báo cáo, tôi đã tiến hành phân tích và nhận
thấy, về căn bản, không giống với văn bản của người Việt Nam viết. Điều đó chứng
tỏ P.C.Lin không phải là Nguyễn Ái Quốc. Nội dung bài viết về Việt Nam hoặc giới
thiệu địa lý, nhân văn, tài nguyên, chế độ chính trị Việt Nam đều dùng đại từ
nhân xưng ngôi thứ ba, đặc biệt có một số danh từ khá kỳ lạ, ví như "Đảng
Cộng sản An Nam đã vượt quá vạn người" (đảng viên Hoa kiều), có ba cái tên
tay sai "Hán gian", truyền đơn cảnh cáo của "Việt kiều", gọi
Tưởng Giới Thạch là "Tưởng công", Tống Tử Văn là "Tống
công", Bạch Sùng Hy là "Bạch công" v.v... tất cả những từ ngữ đã
dùng đều không phải là từ, ngữ thông dụng của người Việt Nam.
Cũng
tương tự như vậy, khi Hồ Chí MInh nói về những vấn đề liên quan đến phái
Troskism ở Trung Quốc, về cơ bản không phải là cách sử dụng giọng điệu của người
Việt Nam. Ví dụ như: "Phái Troskism liên tục phản bội Tổ quốc chúng ta như
thế nào?", "Phái Troskism Liên Xô chẳng những đã bán rẻ vùng duyên hải
Siberie cho đế quốc Nhật mà còn có ý đồ bán cả đất nước Trung Quốc của chúng ta
cho chúng", "Tháng chín năm 1931, chính vào lúc quân đội Nhật chiếm
đóng Mãn Châu, Cục tình báo Nhật ở Thượng Hải bám theo bọn Troskism. Hai bên đã ký kết hợp đồng
với nhau, nội dung như sau: Phái Troskism cam kết không tiếp tục tuyên
truyền cản trở Nhật Bản xâm lược. Cục tình báo Nhật Bản cam kết, trả cho phái Troskism mỗi tháng ba ngàn dollars để
Trần Độc Tú và đồng bọn hoạt động. Chúng lấy tiền của Nhật xuất bản báo chí,
thay Nhật tuyên truyền cái gọi là "Quân đội Nhật đến Mãn Châu chỉ hy vọng
nhanh chóng giải quyết vấn đề tranh chấp, hoàn toàn không có một chút ý đồ xâm
chiếm Trung Quốc". Cục tình báo Nhật đã thừa nhận, những người Troskism tại Thượng Hải, mỗi tháng
nhận được mười ngàn dollars để hoạt động tại miền trung và miền nam Trung Quốc.
Ở Thiên Tân và Bắc Kinh, phái Troskism nhận được năm mươi ngàn dollars mỗi tháng làm kinh
phí hoạt động ở vùng Hoa Bắc. Mục đích của họ chỉ là phản đối Bát Lộ quân và
các tổ chức yêu nước".
Trong các bức thư, tác giả
thường dẫn dụng "Nhật Bản quân tình cục" (Cục tình báo Nhật Bản),
"Nhật Bản mật thám", cùng với "Nhật Bản nội mạc đích tiêu
tức" (Tin tức nội bộ nước Nhật). Ví như: "Chỉ cần 2 sư đoàn là có thể
chinh phục Đông Dương", "Nhật Bản chi ra mười tỷ yên và hy sinh hoặc
chịu thương tật bảy vạn người là cái giá để chiếm 12 tỉnh của chúng ta",
xem ra chuyện này thật kỳ lạ. Nguyễn Ái Quốc học tiếng Nhật thông thạo từ lúc
nào mà có mối quan hệ với "Nhật Bản mật thám", gọi phiên hiệu quân
đội Nhật là "sư doàn", thậm chí, sau khi nước Pháp đầu hàng phát xít
Đức, ông còn bình luận về tương lai của Việt Nam như sau: "Người Pháp...
người Đức... ngưới Anh... người Mỹ... người Trung Quốc... người Nhật
Bản...,chính phủ Pháp giải quyết vấn đề Việt Nam như thế nào? Dự định giao cho nước
Đức? Hoặc là trao trả cho Việt Nam? Chẳng bằng đem Việt Nam trao cho Nhật Bản
là tốt hơn cả. Ngược lại, người Việt Nam có suy nghĩ như thế nào về Nhật Bản?
Bởi vì họ đã vô cùng căm hận nước Pháp mà lại chưa từng được nghe về việc Nhật
Bản cưỡng bức, bạo hành, tàn sát nhân
dân Trung Quốc. Vì thế, một khi họ nhận thấy đất nước vẫn không được đôc lập tự
do, thì bọn giặc lùn này cũng chẳng khác gì giặc Pháp".
Đoạn văn trên đâu có phải là
của Nguyễn Ái Quốc viết trong báo cáo gửi Quốc tế cộng sản. Ngoài ra, còn có
những câu "Ở các tỉnh Bắc Kỳ có một đảng xưng là "Bảo hoàng". Họ
ra một tờ báo, các quan lại dựa vào thế lực hoàng đế để hoạt động". Trung
Quốc dưới tiều đại Mãn Thanh có một tổ chức gọi là "Đảng Bảo hoàng"
ra đời nhằm củng cố chính quyền, trong khi đó , ở Việt Nam xuất hiện phong trào
"Cần vương", chắc là chưa từng nghe tên tổ chức "Đảng Bảo
hoàng". Cách dùng từ ngữ kiểu như thế rất nhiều, không thể liệt kê hết.
Cho nên, tôi dám khẳng định, người ký tên P.C.Lin trong các bản báo cáo tuyệt
nhiên không phải là Nguyễn Ái Quốc mà phải là một người tinh thông Nhật ngữ,
đồng thời lại phải uyên thâm Hán văn viết.
Mười một (11) bài viết trong "Cứu vong nhật
báo"
Sau khi Quảng Châu thất thủ,
tờ "Cứu vong nhật báo" chuyển về Quế Lâm, Quảng Tây, đến đầu năm 1939
thì xuất bản trở lại do Quách mạt Nhược làm chủ bút, Hạ Diễn làm tổng biên tập.
Các bài viết của Hồ Chí Minh trên "Cứu vong nhật báo đều ký tên "Bình
Xuyên" với 11 bài chuyên đề, nguyên tác bằng Trung văn, gồm có:
"Thiên thượng cố muội" (15 tháng 11 năm 1940), "Ếch đầm và trâu
vàng" (24 tháng 11 năm 1940), "Tiên sinh Roosevelt
và trò đùa dai" (27 tháng 11 năm 1940), "Hai chính phủ
Versailles" (29 tháng 11 năm 1940), "Phao tin" (1 tháng 12 năm
1940), "Báo chí Trung Quốc nói về nhân dân Việt Nam" (2 tháng 12 năm
1940), "Ca dao An Nam về Trung Quốc kháng chiến" (4 tháng 12 năm
1940), "Thật giả lẫn lộn" (5 tháng 12 năm 1940), "Bàn về huyết
thống" (8 tháng 12 năm 1940), "Nghĩa Đại Lợi (Italia) thực bất đại lợi"
(16 tháng 12 năm 1940), "Quân Phục quốc Việt Nam thành quân Bán nước Việt
Nam" (18 tháng 12 năm 1940). Đặc điểm của 11 bài chuyên đề là ngôn ngữ
phong phú, ngụ ý sâu sắc. Nội dung văn chương đều nói đến thời kỳ Chiến tranh
Thế giới thứ hai và quan điểm của mình về tình hình chính trị, đặc biệt là kịch
liệt phản đối phát xí Nhật và phát xít Đức. Hầu hết các bài viết đền nhấn mạnh
hai nước Trung - Việt là đồng minh chống chiến tranh, chống chủ nghĩa phát xít.
Từ
11 bài viết này, chưa cần nói đến nội dung thông tin phản ánh, chỉ căn cứ vào
ngữ pháp câu văn và phong cách diễn đạt, ta cũng dễ dàng nhận ra, không thể do
người Việt Nguyễn Ái Quốc mà phải là một người Trung Quốc có trình độ hiểu biết
khá rõ về Nhật bản viết. Xin dẫn ra 3 ví dụ để chứng minh:
1
- Trong bài "Báo chí Trung Quốc nói về nhân dân Việt Nam", tác giả
dùng ngôi thứ nhất: "Phong trào vận động giải phóng Việt Nam là quân Đồng
Minh Trung Quốc kháng chiến chống Nhật. Trên tinh thần và vật chất, chúng ta
dành cho họ sự cổ động và giúp đỡ. Tôn tiên sinh(5) thường dạy chúng
ta là phải giúp đỡ các nước nhược tiểu, cùng nhau phấn đấu giành lấy độc lập tự
do, vì vây, chúng ta phải thực hiện di huấn ấy".
2
- Tong bài "Ca dao An Nam nói về cuộc kháng chiến của Trung Quốc", Hồ
Chí Minh lấy giọng ký giả Trung Quốc, đưa tin nhân dân Việt Nam chi viện Trung
Quốc kháng chiến. Bài viết có đoạn: "Khi ký giả đến Việt Nam, ở thành thị
cũng như nông thôn, đều lan truyền một bài hát, tuy tôi không biết tiếng Việt nhưng nghe đến câu "Giúp Tàu là
tự giúp mình" (Niếp tào la tự niếp minh) cũng có thể hiểu được lời ca này
đồng tình với nhân dân Trung Quốc. Sau này ở Hà Nội, tôi đem sự việc trên nói với
một Hoa kiều đang sống ở Việt Nam, ông ta bảo, đại đa số nhân dân Việt Nam đều ủng
hộ Trung Quốc kháng chiến, họ còn cấu mong cho chúng ta chiến thắng. Từ đoạn
văn vừa dẫn, ta có thể biết được, thời kỳ đầu những năm 1940, việc nghe và nói
tiếng Việt đối với Hồ Chí Minh là rất khó khăn. Trong bài viết của mình, Hồ Chí
Minh đã hướng đến độc giả Trung Quốc, giới thiệu việc ông đã chỉnh lý bài ca
dao "Cứu Trung Quốc là tự cứu mình", xin trích dưới đây để bạn đọc
tham khảo:
Nguyên văn:
Cứu Trung Quốc thị tự cứu tự kỷ
Nhật
bản đông phương pháp tây tư(6)
Dã
man, hung bạo hựu tàn khốc
Phát
động liễu xâm hoa chiến tranh
Trung
Quốc nhân dân bị đồ độc
Nhân
bị sát liễu gia bị phần
Mãn
địa huyết hồng mãn sơn cốt
Phi
cơ tạc đạn vô khả miễn
Ngạ
hàn tật bệnh nan sinh hoạt
Tha
môn gian khổ địa đấu tranh
Bảo
vệ dân chủ dữ hòa bình
Tha
môn nhu yếu viện trợ giả
Tha
môn nhu yếu hữu đồng tình
Nhật
quỷ hướng thế giới tiến công
Tha
thị nhân loại chi công địch
Việt
Nam huynh đệ thư muội a
Khoái
khoái khởi lai trợ Trung Quốc
Nỗ
lực bang trợ Trung Quốc nhân
Trung
Quốc Việt Nam như thần xỉ
Tu
tri thần vong tắc xỉ hàn
Cứu
Trung Quốc thị tự cứu kỷ.
Tạm dịch:
Cứu Trung Quốc là tự cứu mình.
Phương
đông Nhật Bản nước phát xít
Dã
man hung bạo lại tàn khốc
Phát
động chiến tran xâm Trung Hoa
Nhân
dân Trung Quốc bị thống khổ
Người
thì bị giết, nhà bị đốt
Xương
chất thành núi, máu ngập đất
Máy
bay ném bon không chỗ ẩn
Bệnh
tật, đói rét khó sống sót
Nhưng
họ vùng lên quyết đấu tranh
Bảo
vệ dân chủ và hòa bình
Trung
Quốc rất cần sự giúp đỡ
Trung
Quốc rất cần tình đồng chí
Quỷ
Nhật tấn công cả thế giới
Trung
Quốc kháng Nhật vì nhân loại
Việt
Nam vỗn dĩ là anh em
mau
mau đứng lên giúp Trung Quốc
Hết
sức giúp đỡ người Trung Quốc
Trung
Quốc, Việt Nam môi với răng
Nên
biết môi hở tất răng lạnh
Cứu
Trung Quốc là tự cứu mình.
3
- Trong bài "Quân Phục quốc Việt Nam thành quân Bán nước Việt Nam", Hồ
Chí Minh bỗng nhiên lại không biết tiếng Nhật hoặc tỏ ra không hiểu mối quan hệ
Việt - Nhật vào thời điểm ấy. Tôi lại xin trích dẫn một đoạn để chứng minh: Năm
1907, Nhật Bản xét thấy "Hiệp ước Nhật Pháp" đối với Nhật là rất có lợi,
lập tức ra lệnh đuổi tất cả thanh niên Việt Nam về nước, chỉ còn hoàng thân Cường
Để và con nuôi ông ta là Trần Văn An, được thủ tướng Inukai Tsuyoshi, lấy tư cách cá nhân cho phép ở
lại Nhật Bản, với ý đồ, trong tương lai sẽ đưa ông ta lên làm vua bù nhìn Việt
Nam. Sau năm 1931, Trần Văn An đã từng giữ chức vụ bộ trưởng Ngoại giao trong
chính phủ Mãn Châu. Năm 1938, sau khi Quảng Châu thất thủ, Trần Văn An trở về khu vực biên
giới Quảng Đông - Việt Nam. Cuối tháng chín năm ấy, Nhật Bản xâm chiếm Việt
Nam, Nguyễn Cường Để, Trần Văn An cũng theo về hoạt động ở vùng Lạng Sơn - Cao
Bằng. Chúng tôi ở Trung Quốc rất hiểu lầm về tình hình Việt Nam. Ví dụ như,
ngày mồng 5 tháng này, các báo đều đưa tin, bọn địch ở vùng phụ cận Lạng Sơn
chiêu mộ dân chúng, tổ chức "Phục quốc quân", mỗi người được lĩnh 30
đồng một tháng, cán bộ các cấp dều do quân địch tuyển chọn, số người đã lên đến
hàng vạn. Mục đích của họ là xúi giucj dân chúng giành chính quyền từ tay thực
dân Pháp, sau đó đất nước sẽ do họ thống trị". Vào ngày mồng 10, các báo
đưa tin khác nhau: "Những ngày gần đây, phong trào giải phóng dân tộc Việt
Nam lại càng sôi sục, tư lệnh Việt Nam
Phục quốc quân Trần Mỗ, mấy ngày trước đã phát động khởi nghĩa. Dân chúng chuẩn
bị lương thực rầm rộ đi theo, trước mắt đã thu hút được vài vạn người...".
Thế là ngày mồng 5 thành lập tổ chức Việt gian "Phục quốc quân" mà ngày
mồng 10 "Phục quốc quân" lại biến thành đội tiên phong cách mạng dân
tộc? "Phục quốc quân" là bộ đội vũ trang của nhân dân Việt Nam hay đã
trở thành tổ chức Việt gian? Rốt cuộc, đó có phải là lực lượng vũ trang chân
chính của nhân dân Việt Nam? Cái người họ Trần kia thực chất là ai? Ký giả căn
cứ vào các thông tin, sau khi tiến hành điều tra, có thể khẳng định, Trần Mỗ
chính là Trần Văn An. Ngụy "Phục quốc quân" và "Phục quốc
quân" là hai hợp làm một, mà cũng là một phần của hai. Lực lượng vũ trang
chân chính của nhân dân Việt Nam chưa ra đời. Trước mắt tôi xét thấy có mấy
điểm như sau:
a - Người Nùng ở Lạng Sơn suy
nghĩ đơn thuần, do đã căm thù đến tận xương tủy đế quốc Pháp, không hiểu rõ lai
lịch Trần Văn An, chỉ nghe thấy mấy tiếng "Phục quốc quân" liền lập
tức đi theo. Một khi được biết Trần Văn An là Việt gian, họ nhất định từ bỏ
"Phục quốc quân", tham gia vào đội ngũ giải phóng dân tộc chân chính.
b - Lúc này, Nhật Bản đang bị
Anh, Mỹ, Nga cản trở, chưa dám kéo quân vào Việt Nam. Chúng hy vọng Việt Nam có
nhiều tài nguyên nên tìm cách chiêu mộ Việt gian, ra sức nhiễu loạn lòng dân,
tạo cớ xâm lược Việt Nam.
c - Quân địch không ở Việt Nam
nên chúng tìm cách tổ chưc, nuôi dưỡng lực lượng Việt gian chiêu mộ tại vùng
biên giới Quảng Tây, Lạng Sơn, Cao Bằng. Sự kiện này khiến chúng ta phải thật
chú ý.
d - Chúng tôi có nhu cầu cần
phân biệt rõ ràng những đoàn thể chính trị và vũ trang chân chính của Việt Nam,
quyết không chấp nhận các tổ chức hoạt động Việt gian, lại càng không thể chấp
nhận những tổ chức hoạt động thổ phỉ hoặc bị kẻ địch lôi kéo.
(Tác giả nhận định: "Inukai Tsuyoshi"
là thủ tướng Nhật lúc ấy, "uy khấu", "địch quân", "tha
môn" là chỉ quân đội Nhật Bản, các báo là chỉ "Cứu vong nhật báo" lúc ấy ở Quảng
Tây, "Quảng Đông nhật báo", "Tảo đãng báo" v.v... "ký
giả" chỉ Hồ Chí Minh lúc ấy lấy bí
danh Hồ Quang với tư cách Hoa kiều Trung Quốc. Khoảng năm 1940 đến 1941, hoàng
thân Cường Để cũng đến Đài Loan với động cơ không rõ ràng. Thời gian từ tháng
mười một đến tháng mười hai năm 1938, Hồ Tập Chương đến Quảng Đông, thâm nhập
vào Bộ tư lệnh Quân khu Quảng Châu Nhật Bản làm thông dịch, hiển nhiên giai
đoạn lịch sử này có mức độ liên quan tương đối với nhau).
4 - "Thiên thượng cố
muội": Thật ra tôi cũng không hiểu bốn chữ "Thiên thượng cố
muội" là như thế nào. Chúng có phải do từ ngữ Việt Nam chuyển dịch sang
chữ Hán hay là nguyên bản chữ Hán? Nội dung "khai tông minh nghĩa"
("mới bắt đầu đã nêu ý nghĩa chủ yếu", chương I "Hiếu
kinh"): Câu này vốn là tục ngữ Việt Nam tương ứng với câu trong Hán văn
"Thiên công hữu mục" (ông trời có mắt) từ khi nước Pháp bắt đầu xâm
lược Việt Nam, hiện tại nước Pháp bị phát xít Đức chiếm đóng, há chẳng ứng
nghiệm "ông trời có mắt" sao?
Theo nội dung văn bản mà cân
nhắc câu chữ "Thiên thượng cố muội" nên chuyển đổi thành "Thiên
công hữu mục" mới phù hợp với nội dung tiêu đề. Lẽ nào Hồ Chí Minh lại gửi
"Cứu vong nhật báo" bản thảo chuyên mục nhan đề bằng chữ Việt còn nội
dung mới bằng chữ Hán? Căn cứ vào "Hồ Chí Minh toàn tập", tập III, xuất
bản năm 2002, nhan đề bài này là "ÔÔNG-TRÔI-CO-MAT" thì không thể nào
dịch được, mà "Thiên công hữu mục" lại tương ứng với "Ông trời
có mắt" của Việt Nam mới mới chính xác. Do vậy, tôi cứ băn khoăn, không
hiểu lúc ấy Hồ Chí Minh chưa thông thạo tiếng Việt, hay tiếng Việt chưa thống
nhất quy cách ngữ pháp, chưa tiêu chuẩn hóa hoặc cũng có thể là báo chí xuất
bản mắc lỗi?
Chuyện cũ Trang Chu hiểu mộng
(Trang Tử, "Tề vật
luận") , kết vĩ, môt truyện ngụ ngôn lưu truyền "Trang Chu mộng
điệp":
"Ngày trước, Trang Chu
nằm mơ thấy mình biến thành bướm, lướt bay bồng bềnh ngao du khắp nơi, quên mất
bản thân mình trước đây là Trang Chu, bỗng nhiên giấc mơ tan sực tỉnh mới biết
rõ mình lại là Trang Chu".
Không thể biết Trang Chu nằm
mơ hóa thành bướm hay là bướm nằm mơ hóa thành Trang Chu ? Rốt cuộc Trang Chu
và bướm là có sự phân biệt! Trang Tử căn cứ vào sự chuyển biến này mà viết
truyện (vật hóa). Cái mà Trang Tử gọi là "vật hóa" là chỉ cái khoảng
cách người và vật chuyển hóa. Quốc tế cộng sản mượn "phách" của
Nguyễn Ái Quốc để hóa thành "hồn" Hồ Chí Minh. Ý đồ đem Nguyễn Ái
Quốc và Hồ Chí Minh hợp nhất hồn phách, chết mà lại sống, đây phải chăng có thể
gọi là "vật hóa"? Thời gian Hồ Chí Minh bị bắt giữ, thẩm vấn ở Quảng
Tây, thân phận của ông đã chuyển hóa giống như kết quả "vật hóa" của
Trang Chu, chỉ là thời gian này, Hồ Chí Minh không dám đột nhiên tự nhận mình
là Nguyễn Ái Quốc . Rốt cuộc việc này là như thế nào?
Thông thường, người đời đều
nhận biết tác giả "Nhật ký trong tù" đương nhiên là Hồ Chí Minh, cũng
chính là Nguyễn Ái Quốc. Việc này không có gì phải nghi ngờ. Thế nhưng, lúc ấy,
vào hạ tuần tháng giêng năm 1943, Hồ Chí Minh bị giải tới Văn phòng của Ủy viên
quân sự hội chính phủ Quốc dân đảng Quế Lâm để điều tra., vị Ủy viên này tuyệt
đối không điều tra lai lịch Hồ Chí Minh mà lại cho là "hiềm nghi chính trị
phạm", chuyển giao cho Ban chính trị "Đệ tứ chiến khu" Liễu Châu
xác minh. Sau đó, ngày 10 tháng chín năm 1943, Hồ Chí Minh được "Đệ tứ
chiến khu" Liễu Châu phóng thích, tiếp tục ở lại Ban chính trị để giám
sát. Cuối cùng, Văn phòng Ủy viên hội Quế Lâm và "Đệ tứ chiến khu"
Liễu Châu đã thống nhất phán quyết như sau: "Hồ Chí Minh bị nghi ngờ hoạt
động chính trị chống lại nhà nước, nhận thấy, ông ta là Hoa kiều tại Việt Nam,
là phần tử Đệ tam quốc tế, nhưng chưa khẳng định Hồ Chí Minh tức là Nguyễn Ái
Quốc".
Trong thời gian Hồ Chí Minh bị
giam giữ, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhờ Phân hội "Quốc tế chống xâm
lược" ở Việt Nam, gửi điện đến viện trưởng Tôn Khoa và thông tấn xã TASS
của Liên Xô đóng tại Trùng Khánh để công bố thông tin. Đồng thời họ cũng thông
qua Chu Ân Lai nhờ Phùng Ngọc Tường và Lý Nhân Tông giải cứu, tuy vậy cũng
không thấy nói đến Hồ Chí Minh tức Nguyễn Ái Quốc, người Việt Nam. Mãi đến ngày
10 tháng chín năm 1943, Hồ Chí Minh mới được phóng thích. Sau khi Hồ Chí Minh về
Việt Nam, Trung ương Quốc dân đảng, thông qua "Việt Nam cách mạng đồng
minh hội", đến ngày 1 tháng mười năm 1944, mới biết Hồ Chí Minh chính là
Nguyễn Ái Quốc, thủ lĩnh Đảng Cộng sản Việt Nam. Nói cách khác, từ tháng tám
năm 1942, Hồ Chí Minh bị Quốc dân đảng bắt, đến 23 tháng giêng năm 1944, Trương
Phát Khuê gửi thư đến Tưởng Giới Thạch đề nghị phóng thích, ông ta đều nói
quanh co về nhiệm vụ được cử đến Việt Nam công tác. Đối với Hồ Chí Minh, chính
quyền Tưởng Giới Thạch trước sau đều có sự nghi ngờ về lai lịch không rõ ràng,
còn Trương Phát Khuê thì nửa tin nửa ngờ nên mới tạm trọng dụng.
Từ ngày 9 tháng tám năm 1944
"Kế hoạch đại cương nhập Việt công tác" được Trương Phát Khuê phê
chuẩn cấp kinh phí là 7 vạn 6 ngàn đồng (nguyên), dẫn đầu gồm 18 cán bộ trở về
Việt Nam khai triển nhiệm vụ mới.
Tác giả Vương Tâm Cương viết
truyện "Trương Phát Khuê" trang 225 đã nói rất rõ ràng; "Hồ Chí
Minh trở về Việt Nam không lâu, ngày 1 thang mười năm 1944, Trung ương Quốc dân
đảng lúc ấy mới biết, Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc, thủ lĩnh Cộng sản Việt Nam
và Việt Minh". Cũng trang đó, tác giả viết tiếp: "Trương Phát Khuê
gửi công văn đến Tưởng Giới Thạch đề nghị phóng thích Hồ Chí Minh với lý do
"tỷ dư nhiệm vụ":
1- Chúng ta không phản đối
những người Cộng sản chủ nghĩa, đặc biệt là người Quốc tế cộng sản.
2 - Hồ Chí Minh chỉ thừa nhận
là cán bộ cách mạng Việt Nam, chưa từng tham gia Đảng Cộng sản nên không liên
quan gì đến Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Qua quá trình điều tra, chỉ thấy bằng chứng xác minh ông ta là phần tử Đệ tam
quốc tế.
3 - Trương Phát Khuê có ấn
tượng khá tốt về Hồ Chí Minh, cho rằng, theo ngôn ngữ văn tự mà suy đoán, đối
với "Chủ nghĩa Tam dân" Hồ Chí Minh, chẳng những hiểu rất rõ về chính
sách kháng Nhật, mà còn là người có tư duy sâu sắc, thái độ ôn hòa, rất xứng
dáng là đại biểu của đất nước với hơn 20 triệu dân.
Theo phần trích dẫn trên, thời
gian Hồ Chí Minh bị giam giữ ở Quân ủy hội Quế Lâm và Ban chính trị Đệ tứ chiến
khu Liễu Châu, đều không coi Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc. Đảng Cộng sản Việt
Nam, Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng chưa nói Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc. Bản
thân Hồ Chí Minh cũng chưa từng thừa nhận mình là Nguyễn Ái Quốc. Như vậy,
trong sự việc này tồn tại rất nhiều nghi vấn. Lúc ấy Trung cộng và Quốc tế cộng
sản đang hợp tác với Quốc dân đảng chống Nhật, Nguyễn Ái Quốc lãnh đạo Việt
Minh cũng là đối tượng để Quốc dân đảng tranh thủ cho kế hoạch "Hoa quân
nhập Việt".
Hồ Chí Minh chỉ thừa nhận mình
là Nguyễn Ái Quốc sau khi được phóng thích, vậy vì sao phải tổn hao tâm trí
thông qua "Phân hội quốc tế chống xâm lược" ở Việt Nam, thông tấn xã
Nga Xô TASS và Chu Ân Lai giải cứu? Sự việc bỏ đường tắt, phù phép đi đường
vòng để giải cứu Hồ Chí Minh làm cho người ta cảm thấy phí công suy nghĩ.
Vì sao Hồ Chí Minh không thừa nhận mình là Nguyễn Ái
Quốc
Hồ Chí Minh ở Mạc
Tư Khoa bắt đầu từ năm 1934, do áp lực của Quốc tế cộng sản phải sắm vai Nguyễn
Ái Quốc. Trước ngày 6 tháng sáu năm 1941 không lâu, ông ta lại ký tên Nguyễn Ái
Quốc trong bài báo "Thư hiệu triệu gửi đồng bào toàn quốc Việt Nam".
Thế nhưng, vào ngày 27 tháng tám năm
1942, bị quân cảnh Quốc dân đảng bắt giữ điều tra, Hồ Chí Minh vẫn không dám
nhận tên mình là Nguyễn Ái Quốc, việc này rốt cuộc vì sao?
Tôi phải suy nghĩ rất lâu mới
phát hiện ra trò trí trá quỷ thuật trong thời gian này. Nguyên lai, quân Quốc
dân đảng bắt giữ Hồ Chí Minh lúc đầu không biết ông là người có lai lịch phức
tạp cho dù các giấy tờ tùy thân đều đã quá hạn sử dụng. Tuy nhiên, công an
huyện Đức Bảo, Quảng Tây lại nghi ngờ Hồ Chí Minh là gián điệp, tên thực là Hồ
Quang, đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc, đã từng tham gia lớp huấn luyện cán
bộ du kích Nam Hành Sơn. Ký giả Hoa Kỳ Andew Roth, vào năm 1948, trong cuốn
sách "Nước Việt Nam mới", trang 89, đã viết rất rõ: "Hồ Chí Minh
lấy Trung Quốc làm cơ sở, sau mười năm hoạt động, đột nhiên vào năm 1943, bị
nghi ngờ là gián điệp Nhật nên bị nhà đương cục Trung Quốc bắt giữ". Cho
nên, để điều tra lại lịch, ông ta bị chuyển đến Ủy viên quân sự hội Quế lâm của
chính phủ Tưởng Giới Thạch. Lại căn cứ vào bản báo cáo điều tra về Cộng sản
Việt Nam của chính quyền Quốc dân đảng năm 1941, thì: "Nhận định là Việt cộng và Trung cộng đã hợp thành một tổ
chức", đồng thời có biểu hiện lợi dụng quân đội Nhật để chống lại Quốc dân
đảng, nhân đó tạo thành sự kiện "Hoãn Nam Tân tứ quân".
Những nhân tố trên mới là
nguyên nhân chủ yếu bắt giữ Hồ Chí Minh. Nhân đó, trong thời gian bị thẩm vấn,
Hồ Chí Minh không dám thừa nhận mình là Hồ Quang, càng không dám thừa nhận bản
thân từng bị bắt ở Quảng Châu. Lúc ấy, Hồ Chí Minh rất sợ bị mất đầu bởi các
tin đăng tải trên "Nhật nhật tân báo" liên quan đến sự kiện
"Gián điệp Nhật Bản".
(Tác giả nhận định: Lúc ấy,
Thượng Hải, Quảng Châu thuộc khu vực Nhật Bản chiếm đóng, đều phát hành tờ
"Nhật nhật tân báo"). Đương nhiên Hồ Chí Minh không dám thừa nhận
mình là Hồ Quang, sợ bị Trung cộng nghi ngờ, cũng không dám thừa nhận là Hồ Tập
Chương, sợ liên lụy đến tội danh gián điệp Nhật. Lúc này, tự nhận là Nguyễn Ái
Quốc, tuy cũng chẳng phải là thượng sách nhưng có thể tránh được sự nguy hiểm
một khi chính quyền Quốc dân đảng muốn lật lại bản án, tránh phải tái nhập nhà
tù. Mặt khác, Hồ Chí Minh lại không dám công
nhiên thừa nhận là Nguyễn Ái Quốc, mà chỉ lén lút tung tin vỉa hè, kệ
cho thiên hạ loan truyền như một tin đồn, bởi vì, ông rất lo, nếu tự nhận mình
là Nguyễn Ái Quốc, đến một ngày nào đó, lai lịch bất minh bị tố giác, chân
tướng sẽ bị vạch trần. Thời gian từ năm 1924 đến 1927, nhân sự kiện hoạt động
của nóm "Tân tâm xã" ở Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Hải Thần từng là bạn bè tâm đầu ý hợp. Một câu nói,
một việc làm của Nguyễn Ái Quốc Nguyễn Hải Thần đều hiểu rõ ràng. Trước mắt,
Nguyễn Hải Thần đang là khách của Đệ tứ chiến khu, nếu Hồ Chí Minh thừa nhận
mình là Nguyễn Ái Quốc , gặp nhau mặt đối mặt, nhất định Nguyễn Hải Thần sẽ
vạch trần tại chỗ Hồ Chí Minh ngụy trang thân phận.
Cuối năm 1934, Trương Phát
Khuê chỉ đạo ban tổ chức trù bị Đại hội đại biểu toàn quốc "Việt Nam cách
mạng đồng minh hội". Ông ta đề nghị Hồ Chí Minh giữ chức Phó chủ tịch, mà
Chủ tịch lúc ấy là Nguyễn Hải Thần. Hồ Chí Minh và Nguyễn Hải Thần, vì thế, hợp
tác làm việc với nhau một thời gian tại Liễu Châu. Có một ngày, Chủ nhiệm Ban
chính trị Hầu Chí Minh mở tiệc chiêu đãi. Nguyễn Hải Thần, Hoàng Văn Hoan, Lê
Hồng Sơn, Hồ Chí Minh được mời dự. Trong tiệc, Nguyễn Hải Thần cao hứng xuất
một vế đối: "Hầu Chí Minh, Hồ Chí Minh, lưỡng vị đồng chí, chí giai
minh"(Hầu Chí Minh, Hồ Chí Minh, hai người dồng chí, chí đều sáng). Đọc
xong, ông hỏi: "Vị nào có thể đối được?" Vào lúc mọi người còn đang
tìm câu chữ chưa biết làm thế nào cho chỉnh thì Hồ Chí Minh thong thả đọc ngay
vế sau: " Nhĩ cách mệnh, ngã cách mệnh, đại gia cách mệnh, mệnh tất
cách"(Ngài cách mạng, tôi cách mạng, mọi người cách mạng, việc tất thành).
Nghe xong, Hầu Chí Minh luôn miệng tán thưởng: "Đôii giỏi quá! Đối giỏi
quá!". Nguyễn Hải Thần cũng tâng bốc: "Hồ tiên sinh có tài suy nghĩ
mẫn tiệp, bội phục, bội phục!". Với Nguyễn Ái Quốc trước đây là chiến hữu
thân mật, nay gọi Hồ Chí Minh là "Hồ tiên sinh", đủ để chứng minh,
Nguyễn Hải Thần biết rõ Nguyễn Ái Quốc là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh là Hồ Chí
Minh. Cố nhiên, lúc ấy Hồ Chí Minh đang ở Liễu Châu, làm sao dám nhận mình là
Nguyễn Ái Quốc.
Tháng mười năm 1944, Trung
ương Quốc dân đảng, sau khi Hồ Chí Minh trở về Việt Nam mới biết ông ta là
Nguyễn Ái Quốc, thủ lĩnh Việt cộng và Việt Minh. Trương Phát khuê được biết sớm
hơn vào đầu năm 1943 khi mà Hồ Chí Minh bị chuyển giao cho Ban chính trị Đệ tứ
chiến khu thẩm tra.
Trung cộng và Việt cộng đều
không công khai thừa nhận Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc nhưng lại lén lút để bí
mật này lọt ra ngoài bằng con đương truyền miệng. Đây chính là thủ đoạn hai
mặt, một mặt yêu cầu Hồ Chí Minh không thừa nhận mình là Nguyễn Ái Quốc , nhưng
mặt khác lại thông qua những đảng viên cộng sản như Hoàng Quốc Việt tán phát bí
mật Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc. Thời kỳ ẩn mình làm việc dưới trướng
của Trương Phát Khuê, hoạt động của những người cộng sản là rất rõ ràng. Ví
như, Bí thư Trung cộng Tả Hồng Đào phục vụ trong chi đội đặc biệt của Tập đoàn
quân thứ 8, thời kỳ năm 1941, thư ký cơ yếu của Trương Phát Khuê biết tin Hồ
Chí Minh bị chuyển từ Quế Lâm đến Ban chính trị Đệ tứ chiến khu, lập tức liên
lạc với những người thân tín của Trương Phát Khuê là Ngô Trọng Hy, Cao Nhược
Ngu, Trương Lệ, Hoàng Trung Cẩn... truyền đạt tin tức can ngăn: Hồ Chí
Minh chính là Nguyễn Ái Quốc, khuyên can
Trương Phát Khuê hủy bỏ lệnh giam lỏng ông ta để "tỷ dư nhiệm vụ"
(dùng vào việc sau này).
Không lâu sau, Chủ nhiệm Ban
chính trị Hầu Chí Minh đi họp từ Trùng Khánh về, thực hiện lệnh phóng thích Hồ
Chí Minh. Trương Phát Khuê tự mình đưa Hồ Chí Minh đến ở tại "Bân Lư"
trên đường Diêu Phụ, coi như thượng khách.
Đoạn văn trên là do Vương Tâm
Đồng viết trong "Truyện Trương Phát Khuê", chương 17, trang 215 và
"Ghi chép về Tả Hồng Đào mười năm trong hang hổ"
Lai lịch Hồ Chí Minh vì sao không bị vạch trần?
Quá trình chuyển hóa thân phận
từ Hồ Chí Minh đến Nguyễn Ái Quốc hoàn toàn không phải mọi việc đều thuận lợi
trong một sớm một chiều. Đó là cả một công việc diễn ra lâu dài, bền bỉ với
không ít người tham gia thúc đẩy mới đạt thành hiệu ứng của màn hý kịch. Xét về
mặt thời gian, sau khi Nguyễn Ái Quốc bị bệnh lao phổi chết vào mùa thu năm
1932, chẳng phải đã có ngay kế hoạch "mượn xác hoàn hồn" hay
"dời hoa tiếp cây".
Năm 1934, Hồ Tập Chương đến Mạc
Tư Khoa với bí danh P.C.Lin, sau khi chịu sự điều tra của tổ chuyên án ba người,
Quốc tế cộng sản mới bắt đầu đề nghị Hồ Tập Chương thay thế vai trò Nguyễn Ái Quốc, lấy tư
cách đại biểu Quốc tế cộng sản tiến hành hoạt động giành độc lập cho Việt
Nam. Khoảng thời gian ấy, sự việc luôn ở trong tình trạng mập mờ, bán tín bán
nghi, cho đến tháng sáu năm 1957, khi về thăm quê hương Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ
An, Hồ Chí Minh mới chính thức công khai thừa nhận mình là Nguyễn Ái Quốc. Thời
gian này, song thân Nguyễn Ái Quốc đã qua đời từ lâu, một người anh là Nguyễn
Sinh Khiêm mất vào năm 1950 và người chị là Nguyễn Thị Thanh cũng mất vào năm
1954. Ông Khiêm và bà Thanh, năm 1945 cũng đã ra Hà Nội gặp Hồ Chí Minh, vội
vàng nói chuyện về thời thơ ấu rồi lại trở về quê. Vậy tình hình lúc gặp mặt ra
sao, Nói những chuyện gì, trước sau vẫn còn là một bí mật. Vì thế, vào năm
1957, khi Hồ Chí Minh về thăm quê hương Nguyễn Ái Quốc, những người trong làng,
có thể nói, không một ai phát hiện ra vị Chủ tịch nước Việt Nam không phải là
Nguyễn Ái Quốc. Huống hồ, các phe cánh đối lập như Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng
Khanh cũng lưu lạc ở Trung Quốc Đại lục, chết vì bệnh tật chốn tha hương. Hồ
Chí Minh đến lúc này với vượt qua các trở ngại, hoàn thành kế hoạch "dời
hoa tiếp cây", thay thế vai trò Nguyễn Ái Quốc do Quốc tế cộng sản sắp đặt.
Công bằng mà nói, Hồ Chí Minh
hoàn thành nhiệm vụ "dời hoa tiếp cây" tuyệt đối không phải do năng
lực cá nhân. Màn ký kịch này là sự hợp tác diễn xuất tuyệt vời của những nhân
vật chóp bu Đảng Cộng sản Việt Nam mà đạo diễn chính là Vera Vasilieva, phụ
trách thiết kế quy hoạch, trong đó, diễn viên chính là Hồ Chí Minh, chịu trách
nhiệm biên tập kịch bản và thượng đài diễn xuất. Phối hợp diễn xuất là các lãnh
đạo cao cấp như Lê Hồng Phong, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên,
Hoàng Văn Hoan, Nguyên Lương Bằng cùng với lãnh đạo cao cấp Đảng Cộng sản Trung
Quốc Chu Ân Lai, Đặng Dĩnh Siêu, Lý Phú Xuân, Thái Sướng, Khang Sinh, Lý Khắc
Nông..., phụ trách yểm hộ, bao che lai lịch Hồ Chí Minh. Họ giấu kỹ lai lịch
cùng những chứng cứ liên quan đến Hồ Chí Minh. Họ dùng các phương thức yểm hộ
khác nhau rối ren như tơ nhện để ngụy tạo thông tin, khiến cho nhất thời có
người tỏ ra hoài nghi, thì bất quá cũng như một cánh hoa trôi giạt trên biển
lớn, chỉ cần một đợt sóng trào là mất hút, không để lại dấu vết.
Năm 1945, vị hoàng đế cuối
cùng của triều Nguyễn là Bảo Đại đã từng nói: "Chỉ cần chứng minh được Hồ
Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc tôi sẽ lập tức thoái vị". Không lâu sau, Bảo
Đại thoái vị thật, có thể thấy, giới lãnh đạo Việt Nam che đậy lai lịch Hồ Chí
Minh đặc biệt thành công. Một lần nưa, tôi nhấn mạnh, Nguyễn Ái Quốc đã chết vì
bệnh lao phổi vào mùa thu năm 1932, năm 1942 mới thấy tên tuổi Hồ Chí Minh xuất
hiện. Như vậy, từ trước năm 1932, người ta rất quen biết Nguyễn Ái Quốc, sau
năm 1933, người ta không quen biết Hồ Chí Minh, vậy, theo lý mà nói, Nguyễn Ái
Quốc không phải là Hồ Chí Minh, chỉ có điều, vì sao Nguyễn Ái Quốc có mối quan
hệ đặc biệt thân thiết với một lãnh đạo nổi tiếng của Đảng Cộng sản Pháp là Paul
Vaillant Couturier và vị luật sư Anh Quốc Frank Loseby đã từng tham gia giải cứu
Nguyễn Ái Quốc thoát khỏi nhà tù Hương Cảng, đều chưa từng đề cập đến những nghi vấn về
thân phận Hồ Chí Minh? Hồ Chí Minh và những người cộng sản đã dùng những cách
gì mà lừa bịp thành công? Chỉ xin dẫn ra trường hợp Paul
Vaillant Couturier và
Frank Loseby làm ví dụ. Vậy thì làm thế nào Hồ Chí Minh và những đồng
chí của ông ngụy tạo cố sự để che mắt
người nước ngoài, khiến họ tin rằng Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc? tôi xin lấy
một tiêu đề trong thiên này là "Những năm tháng phiêu bạt" để làm lời
kết.
Hồ Chí Minh ngụy tạo sự kiện Nguyễn
Ái Quốc sống lại
Paul
Vaillant Couturier là chuyên gia nước Pháp về "Chủ nghĩa xã hội", từng
là Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, chủ bút tờ báo "Nhân đạo".
Tháng chín năm 1933, Paul Vaillant Couturier đã đến Thượng Hải tham gia "Hội
nghị thế giới phản đối chiến tranh đế quốc". Tháng mười hai năm 1920, Nguyễn Ái Quốc có tham gia "Hội nghị Tour" của
Đảng Xã hội Pháp, sau khi Đảng Xã hội bị phân liệt, đã quen biết Marcel Gabriel
và Paul Vaillant Couturier là thành đảng viên cộng sản. Dưới sự chỉ đạo
của Marcel Gabriel và Paul Vaillant Couturier, Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt
động tuyên truyền phản đỗi chủ nghĩa thực dân, trở thành chuyên gia nghiên cứu
về vấn đề thực dân của Đảng Cộng sản Pháp.
Hồ Chí Minh (Hồ Tập Chương),
từ đầu đến cuối, chưa bao giờ quen biết Marcel Gabriel và Paul
Vaillant Couturier.
Mùa thu năm 1937, Paul Vaillant Couturier qua đời, lúc ấy Hồ Tập Chương
đang ở Mạc Tư Khoa, bí danh P.C.Lin, chấp hành chỉ thị của Quốc tế cộng sản,
lấy danh nghĩa Nguyễn Ái Quốc, viết một bức thư bằng tiếng Pháp gửi tới Marcel
Gabriel tỏ lòng thương tiếc và chia buồn về việc Paul Vaillant Couturier qua đời.
Nói cách khác, Hồ Chí Minh sau khi Paul Vaillant Couturier chết mới mượn mối
quan hệ giữa Nguyễn Ái Quốc và Paul Vaillant Couturier để liên kết Nguyễn Ái Quốc
và Hồ Chí Minh thành một người, dụng ý che mắt thế gian, tái hiện hình ảnh Nguyễn
Ái Quốc vẫn sống trên đời.
Trần
Đạt Nhân, vào năm 1963, trong cuốn sách "Vừa đi đường vừa kể chuyện",
và Nguyễn Lương Bằng năm 1965, trong cuốn sách "Tôi đã mấy lần được gặp
Bác Hồ" đều nhắc đến sự kiện năm 1933 Paul Vaillant Couturier đến Thượng Hải, đồng thời gộp
Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh làm một, ngụy tạo sự kiện Paul
Vaillant Couturier
gặp Nguyễn Ái Quốc ở Thượng Hải để tạo điều kiện thuận lợi cho Hồ Chí Minh đến
Mạc Tư Khoa. Thời điểm những cuốn sách này xuất bản, Nguyễn Ái Quốc đã qua đời
gần ba mươi năm, Paul Vaillant Couturier cũng đã mất hai mươi sáu năm.
Trần Đạt Nhân là bút danh của Hồ Chí Minh, Nguyễn Lương Bằng là Phó chủ tịch nước Việt
Nam, hai người đều đồng lòng, nhất trí chế tạo Hồ Chí Minh tức Nguyễn Ái Quốc
mà không bị lật tẩy bởi nhân chứng đã chết, Hồ Chí Minh vẫn đường đường chính
chính tiếp tục sắm vai Nguyễn Ái Quốc.
Ngày 6 tháng sáu năm 1931,
Nguyễn Ái Quốc bị cảnh sát Hương Cảng bắt giữ, luật sư Frank
Loseby nhận lời
biện hộ. Sau chín phiên xử, Nguyễn Ái Quốc được phóng thích. Vợ chồng Frank
Loseby cũng có
mặt trong buổi tiễn đưa Nguyễn Ái Quốc rời Hương Cảng. Mùa thu năm 1932, Nguyễn
Ái Quốc mắc bệnh lao phổi sau đó qua đời. Tất nhiên, luật sư Frank
Loseby cũng biết
tin này qua báo chí. Năm 1956, trong đoàn ký giả Anh Quốc thăm Việt Nam, có một
thành viên là đảng viên Cộng sản Anh. Hồ Chí Minh có cuộc gặp gỡ riêng với ký
giả cộng sản này, sau khi được biết ông ta sẽ đến Hương Cảng nên có viết bức
thư gửi luật sư Frank Loseby. Không lâu sau, Hồ Chí Minh lại gửi
hai tấm ảnh chân dung kèm theo bức tranh thêu "Chùa Một cột" và bức
tranh sơn mài tặng vợ chồng luật sư, đồng thời mời hai ông bà thăm Việt Nam.
Mùa
xuân năm 1960, tại trụ sở tiếp khách Trung ương Đảng, Hồ Chí Minh đón tiếp vợ
chồng luật sư Frank Loseby và ái nữ của họ là tiểu thư Patricia. Lúc ấy vợ chồng Loseby dã gần 80,
Patricia cũng đã 30, mới gặp Hồ Chí Minh lần đầu, trong khi Nguyễn Ái Quốc đã
qua đời 28 năm. Luật sư nói: "Từ sau năm 1933, tôi có nhận được của Nguyễn
Ái Quốc một bức thư đề nghị gửi ảnh cùng địa chỉ, nhưng trong lòng tôi nghi hoặc,
chỉ sợ đây là trò chơi "bịt mắt bắt dê" của cảnh sát nên không dám trả
lời. Không lâu. lại nhận được bức thứ hai, nội dung giống như bức thứ nhất, tôi
vẫn giữ cẩn thận, để nhớ lại hình ảnh Nguyễn Ái Quốc đã qua đời". Luật sư
giải thích nguyên nhân không liên lạc với Nguyễn Ái Quốc là do không biết Nguyễn
Ái Quốc chính là Hồ Chủ Tịch. Sau này vợ chồng Frank Loseby còn mấy lần được mời
tham dự hội thảo tại Viện bảo tàng Cách mạng Việt Nam, băng ghi âm lời phát biểu
của ông và những tư liệu quý do ông tặng vẫn được lưu giữ. Luật sư Loseby còn
căn cứ theo kiểu dáng quần áo Nguyễn Ái Quốc từng mặc năm 1931, đã dùng vải
bông gai may một chiếc áo khoác dài gửi tặng Bảo tàng Cách mạng Việt Nam. Năm
1967, Frank Loseby qua đời, Hồ Chí Minh gửi một vòng hoa đặc biệt đặt bên linh cữu
ân nhân với dòng chữ: "Hồ Chí Minh đau xót tưởng nhớ luật sư Frank
Loseby".
Trở lên trên là những ghi chép có liên quan đến
Hồ Chí Minh và luật sư Frank Loseby được dẫn từ "Hồ Chí Minh, cha già dân
tộc Việt Nam" của cựu Đại sứ Lý Gia Trung, từ trang 226 đến 228, Nguyễn Việt
Hồng chuyển dịch, in trong chuyên mục "Hồ sơ Hương Cảng năm 1931". Từ
những lời kể trên, vợ chồng Frank Loseby đã biết rõ Nguyễn Ái Quốc chết vào mùa thu năm
1932, vậy mà đến sau năm 1933 lại nhận được thư của Nguyễn Ái Quốc, vì thế ông
cho là cảnh sát chơi trò "bịt mắt bắt dê", không dám trả lời. Đến năm
1956, một ký giả cộng sản Anh Quốc chuyển tới Frank Loseby bức thư của Hồ Chí Minh, sau
này lại gửi tặng ảnh chân dung, tranh thêu, tranh sơn mài cùng với lời mời thăm
Việt Nam, thậm chí còn cử người đại diện mậu dịch ở Hương Cảng là Nguyễn Văn
Phối và Đỗ Xuân Phong đến thăm gia dình luật sư.
Tác giả không thể biết nội
dung bức thư Hồ Chí Minh nói những gì, chỉ căn cứ vào những động tác liên hoàn
từ năm 1956, có thể phỏng đoán, Hồ Chí Minh có ý ngầm thông báo cho vợ chồng
luật sư Loseby biết là, Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc, tin tức đăng trên
các báo về sự kiện Nguyễn Ái Quốc chết bởi bệnh lao phổi chỉ là tin tức giả.
Lật lại vấn đề, nếu như Nguyễn Ái Quốc không chết, chân thành báo đáp ơn cứu
mạng, vì sao đến mãi năm 1956 mới ba lần liên lạc với vợ chồng luật sư Frank
Loseby, năm 1960 mới chính thức nời thăm? Thời gian kéo dài những 20 năm, lẽ
nào Nguyễn Ái Quốc không có cơ hội đến Hương Cảng cảm tạ ân nhân? Lại vì sao 28 năm sau, khi
mà vợ chồng luật sư đã gần 80 mới mời đến Việt Nam gặp mặt? Tác giả nhận thấy
"Hồ Chí Minh có thể làm bất cứ việc gì để chờ đợi thời cơ, sau đó chọn dịp
thuận lợi nhất mới gặp mặt". Thử nghĩ, một ông già đã xấp xỉ 80 tuổi, sau
28 năm bặt vô âm tín, đặc biệt là người Âu Mỹ nhìn người phương Đông, liệu có
khả năng phân biệt được thật giả? Hồ Chí Minh chơi trò bịp bợm chẳng qua là để
vợ chồng Losely ghi nhớ "Hồ Chí Minh
là Nguyễn Ái Quốc" mà thôi. Hơn thế nữa, Viện Bảo tàng Cách mạng
Việt Nam lại còn mời vợ chồng Frank Loseby tham dự hội thảo, lưu lại các tài liệu liên
quan và băng ghi âm lời phát biểu cùng chiếc áo khoác vải bông kiểu dáng năm
1931, làm cho khắp nơi nơi đều hiểu rõ mối quan hệ giữa Hồ Chí Minh với luật sư
Loseby chính là bằng chứng tuyệt vời khẳng định Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc.
THIÊN IV
Khúc ca buồn về chuyện hôn
nhân tình ái
Hồ sơ hôn nhân Hồ Chí Minh
T
|
rong bài “Nguyễn Ái Quốc chết rồi sống lại”, tôi đã nhấn mạnh, vào mùa
thu năm 1932, Nguyễn
Ái Quốc chết vì bệnh lao phổi, người xuất hiện sau này tuyệt đối không phải Nguyễn Ái Quốc mà chính là Hồ Tập Chương, làm nhiều chuyên
gia nghiên cứu về Hồ Chí Minh đặt câu hỏi nghi ngờ. Trong quá trình viết cuốn
sách này, tôi đã tham khảo không chỉ một vài tài liệu mà thực chất đã tiếp cận
hàng đống hồ sơ, do đó đã phát hiện ra những điều bất hợp lý thậm chí mâu thuẫn
nhau trong cuộc đời nhân vật lịch sử này. Vấn đề quan trọng nhất là cần phải
khách quan và trung thực trên cơ sở những chứng cứ khoa học, đồng thời hết sức
tránh thái độ cực đoan do thành kiến, nhằm loại trừ những sai lầm để tìm ra sự
thật.
Nghiên cứu hồ sơ hôn nhân, tình ái của Hồ Chí Minh chính là để làm sáng tỏ Nguyễn Ái Quốc là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí
Minh là Hồ Chí Minh , người này không thể là người kia và ngược lại. Hôn nhân , tình ái của
Nguyễn Ái Quốc cần được phân biệt giữa Breiere, Tăng Tuyết
Minh với Nguyễn Thị Minh Khai. Hôn nhân tình ái của Hồ Chí Minh cũng
phải được phân biệt giữa Lâm Y Lan, Đỗ Thị Lạc và Nông Thị Xuân. Một số cuộc
hôn nhân , tình ái này đã được đề cập rải rác trong “Truyện Hồ Chí Minh” của
Willam J.Duiker và “Những năm tháng Hồ Chí Minh mất tích, 1919 - 1941” của Sophie Quinn – Judge, quyển 2, nguyệt
san “Vũ Hán văn sử tư liệu” (Đại lục) với bài “Hồ Chí Minh và người vợ Trung
Quốc Tăng Tuyết Minh”, nguyệt san “Nhân dân văn trích” (Đại lục) có bài “ Mối
tình sống chết giữa Hồ Chí Minh và Lâm Y Lan”. Về phía Việt Nam có tác phẩm
“Chị Minh Khai” của nhà văn Nguyệt Tú, “Việt duệ Hoa nhân Lĩnh Nam di dân”
chuyên san có bài “ Thê thiếp và tình nhân của Hồ Chí Minh”. Nói chung, các tác
phẩm trên đều có những phát hiện và trình bày, phân tích về tình trạng hôn
nhân, tình ái của HCM tương đối đúng sự thực. Tuy nhiên, về phía nhà nước Việt Nam, những người lãnh đạo cao cấp đều ra sức phản bác,
cũng như lúc sinh thời, Hồ Chí Minh chưa bao giờ
thừa nhận mình từng có vợ có con. Họ coi Hồ Chí Minh là thần thánh, biểu tượng tối
cao của sự nghiệp cách mạng, nên sẵn sàng nhắm mắt, bịt tai trước sự thật lịch
sử. Hôn nhân của Nguyễn
Ái Quốc và Hồ Chí Minh là hiện thực khách quan, được bạch hóa
tại nhiều hồ sơ lưu trữ, không thể xóa bỏ được vết hằn lịch sử.
Từ sau năm 1933 cho đến lúc qua đời, Hồ Chí Minh không bao giờ thừa nhận các quan hệ hôn nhân,
gia đình, nhưng trước năm 1933, tình trạng hôn nhân của Nguyễn Ái Quốc lại được công khai rõ ràng. Nhà nước Cộng sản Việt Nam cường điệu chuyện Hồ Chí Minh vì sự
nghiệp độc lập giải phóng dân tộc mà hy sinh tình cảm cá nhân, bởi vì họ không muốn và cũng không dám đối mặt với
một sự thật chết người, ấy là Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh không phải là một. Không còn cách nào khác, các nhà lãnh đạo cao cấp,
thông qua bộ máy tuyên truyền, đã lợi dụng những chuyện cường điệu, bịa đặt về
thứ tình yêu “đồng chí cộng sản” để nấp sau tấm màn nhung, điều khiển vở hài
kịch “tráo rồng đổi phượng”, “dời hoa tiếp cây”.
Chuyện hoang đường về
đạo đức thánh nhân
Trong nhận thức của một số người, ấn tượng phổ
biến về việc ông Hồ
Chí Minh không có vợ con là bởi
sự nghiệp cách mạng, vì độc lập dân tộc nên đã hy sinh hạnh phúc gia đình. Đại
sứ Trung Quốc Lý Gia Trung đã viết trên tờ “Thế giới tân văn” ngày 11 tháng bảy năm 2005 như sau : “ Hồ Chí Minh vì sự nghiệp cách
mạng chấp nhận sống độc thân, không xây dựng gia đình, không vợ không con.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, vào những năm năm mươi, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã từng có ý sắp đặt một nữ tthanh niên ưu tú bên
cạnh Bác để giúp đỡ Người trong công tác cũng như sinh hoạt. Thế nhưng, khi
người phụ nữ ấy được đưa đến, Hồ Chí Minh lại bảo : “Bác ở đây không có việc
gì, cháu hãy về cơ quan công tác cho tốt”. Có lần Hồ Chí Minh tâm sự với các nhân viên phục vụ về nguyên
nhân mình không xây dựng gia đình : “ Thời trẻ, Bác bôn ba nước ngoài, đi đến
đâu cũng được phụ nữ để ý, chỉ hiềm lúc ấy Bác đang họat động bí mật, sẽ có
ngày trở về nước làm cách mạng, một khi thành gia thất thì rất khó bảo vệ được
bí mật”. Lý Đại sứ viết tiếp : “ Hồ Chí Minh
vì tự do độc lập của nhân dân mà dấn thân cuộc đấu tranh cách mạng gian
khổ, không màng đến sự sống chết và hạnh phúc cá nhân, cho nên chấp nhận suốt
đời sống độc thân”. Việc không có vợ con
của Hồ Chí Minh có đúng như Lý Gia Trung nhận định là chỉ vì nền độc lập dân tộc
hay là còn có lý do khác quan trọng hơn mà họ cố ý giấu nhẹm sự thật, tạo ra
chung quanh một vòng hào quang để biến ông
thành vị thánh sống?
Căn cứ vào những hồ sơ từ thời thực dân Anh Pháp để
lại, mới được giải mật gần đây, thì Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh đã có thời kỳ hôn nhân tốt đẹp, đồng thời cũng tồn tại
nhiều mâu thuẫn trong các mối quan hệ. Tuy nhiên, nhà nước cộng sản Liên Xô Trung Quốc và Việt Nam
cho đến nay chẳng những không chịu thừa nhận thực trạng hôn nhân của Hồ Chí
Minh mà còn cố ý làm sai lệch các hồ sơ
trên. Họ làm vậy mới mục đích gì? Lần lượt phân tích các hồ sơ qua nội dung đã
được bạch hóa, có thể suy đoán, Nga cộng, Trung cộng, Việt cộng, không dám công
bố sự thật hôn nhân Hồ Chí Minh là bởi họ đã hiểu Nguyễn Ái Quốc và Hồ
Chí Minh là hai người khác nhau. Một khi các chuyên gia nghiên cứu về Hồ Chí
Minh công bố trước thế giới sự thật này thì thân phận Hồ Chí Minh sẽ trở thành
một “song bào án”, hình tượng Hồ Chí Minh bỗng chốc sụp
đổ, làm gì còn đủ tư cách "Cha già dân tộc"!
Những năm ấy Quốc tế cộng sản phải khó khăn lắm mới
tạo ra được vở kịch “mượn xác hoàn hồn” với kế hoạch cài cắm một phái viên của mình vào Việt Nam nhằm thực hiện
mục đích “nhuộm đỏ” khu vực Đông Nam Á, nay có nguy cơ bị vạch trần nên tất yếu
họ tìm mọi cách bưng bít.
Vào những năm đầu thế kỷ XXI (năm 2000), sự thực về
hôn nhân, tình ái của Hồ Chí Minh còn được Sophie Quinn- Judge trong “Những năm
tháng Hồ Chí Minh mất tích 1919 -1941”, quyển I, ở
phần mở đầu, giới thiệu tóm tắt đã viết : “ Hồ Chí Minh không phải là hòa
thượng độc thân, qua thẩm xét, nghiên cứu kỹ lưỡng, ông ta từng có quan hệ
chính thức với hai người phụ nữ”. Phần tổng kết, tác giả nhắc lại : “ Hồ Chí
Minh tuyệt đối không phải là một vị thánh của Chủ nghĩa cộng sản chỉ vì ông ta
không có cơ hội chung sống cùng phụ nữ mà thôi”. Một tác giả người Việt là nhà
nghiên cứu Trần Gia Phụng trong tác phẩm “ Ông Hồ có bao nhiêu vợ?”, đã viết :“
Hồ Chí Minh cũng chỉ là một người bình thường. Ông đã từng trải qua mấy cuộc
hôn nhân, có vợ có con, thậm chí có đến mấy bà vợ cùng nhân tình”. Trong xã hội
Việt Nam năm sáu mươi năm về trước, đây là hiện tượng
cực kỳ phổ biến. Chỉ có điều, đã trót suy tôn ông ta là “nhà chính trị kiệt
xuất”, “Cha già dân tộc”, “biểu tượng của cách mạng Việt Nam” nên bắt buộc phải giấu biệt các mối quan hệ hôn
nhân, tình ái, vô hình chung Cộng sản Việt Nam đã biến ông Hồ thành kẻ phụ
tình, bất nghĩa, thoái thác trách nhiệm làm chồng làm cha, một lẽ thường của
đạo nhân luân.
Cầu trả về cầu
đường trả về đường
Qua những sự thực lịch sử về tình trạng hôn nhân của
Hồ Chí Minh , cẩn thận xem xét, kiểm nghiệm kết hợp với so sánh, đối chứng, ta
có thể thấy rõ, Nguyễn
Ái Quốc và Hồ Chí Minh có những
quan hệ hôn nhân, tình ái vào các thời kỳ khác nhau. Nếu đem hai người có tình
trạng hôn nhân ở hai thời kỳ khác nhau gộp lại cho một người rồi đồng nhất cùng
một thời gian thì chẳng khác gì câu chuyện dân gian “râu ông nọ cắm cằm bà
kia”, làm biến dạng bản chất sự việc. Muốn làm rõ việc này cần phải lấy năm
1932 làm mốc phân ranh giới giữa Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh. Trước năm 1932, thuộc hôn nhân, tình ái của Nguyễn Ái Quốc với
Breiere, Tăng Tuyết Minh và Nguyễn Thị Minh Khai.Từ
năm 1933 về sau, thuộc hôn nhân tình ái của Hồ Chí Minh với Lâm Y Lan, Đỗ Thị
Lạc và Nông Thị Xuân. Đem Nguyễn Ái Quốc ghép với Hồ
Chí Minh là không thể. Để loại trừ những kết luận chủ quan, sai lầm, cần phải
đối chiếu thời gian, tìm hiểu các mối quan hệ, phân tích dữ liệu một cách cẩn
trọng trong đống hồ sơ lưu trữ về Hồ Chí
Minh để trả lại sự minh bạch cho lịch sử như tục ngữ của người Trung Quốc là “ cầu trả về cầu, đường trả về đường”. Xin
độc giả tham khảo những tư liệu sau đây:
1 – Năm 1921, Nguyễn Ái Quốc ở trọ tại biệt thự Goblin thủ đô Paris nước
Pháp, làm quen với một thiếu nữ người Pháp là cô Briere. Cảnh sát xác nhận cô
này là tình nhân của Nguyễn Ái Quốc .
2 – Năm 1925, tại Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc quen biết một thiếu nữ Trung Quốc là Tăng Tuyết Minh, năm 1926 hai người kết
hôn. Sau khi kết hôn hai người ở trong biệt thự của Mikhail Brodin.
3 – Năm 1930, tại Hương Cảng, Nguyễn Ái Quốc mang theo từ Việt Nam một người đồng hương đồng thời là người yêu của ông ta tên Nguyễn Thị
Minh Khai. Mùa xuân năm 1931, Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn
Thị Minh Khai cử hành hôn lễ đơn giản tại nhà khách qua sự chứng kiến của các đồng chí đến từ Sài Gòn và Đông Kinh.
4 – Năm 1935, Mạc Tư Khoa triệu tập Hội nghị
lần thứ VII Quốc tế cộng sản. Thời gian này Nguyễn Ái Quốc bị bệnh đã qua đời, Nguyễn Thị Minh Khai với tư cách là vợ của Nguyễn Ái Quốc , khi đến Mạc Tư Khoa, ghi trong tờ khai là đã
kết hôn với một người đồng chí có tên P.C. Lin.
Hội nghị kết thúc, Nguyễn Thị Minh Khai ở lại Liên Xô, đến phòng đăng ký giá
thú làm thủ tục kết hôn với Lê Hồng Phong, là người lãnh đạo mới của Đảng Cộng
sản Đông Dương.
5- Cuối năm 1944, Hồ Chí Minh trở lại căn cứ địa cách
mạng Việt Bắc. Trong số 18 cán bộ nòng cốt theo về Việt Nam có một phụ nữ là Đỗ Thị Lạc, mọi người quen
gọi “chị Thuận”. Tại Cao Bằng, Hồ Chí Minh
và Đỗ Thị
Lạc sống chung với nhau một thời
gian.
6 – Năm 1955, một thiếu nữ xinh đẹp người Nùng,quê Hòa
An, Cao Bằng là Nông Thị Xuân được cử làm y tá bên cạnh Hồ Chí Minh . Hai người
sống chung với nhau gần một năm thì cô Xuân sinh hạ một bé trai. Đứa bé lúc đầu
gửi Hội Phụ nữ rồi Chu Văn Tấn chăm sóc, sau này thư ký riêng của ông Hồ là Vũ
Kỳ bí mật nhận làm con, nuôi dưỡng tại nhà mình.
7 – Năm 1965, nhân việc Đào Chú, một yếu nhân của Đảng
Cộng sản Trung
Quốc, đồng thời là bạn thân của
Hồ Chí Minh viếng thăm Hà Nội, ông Hồ có nhờ Đào Chú tìm giúp một phụ nữ từng
quen biết thời trẻ ở Quảng Đông là Lâm Y Lan để nối lại tình xưa nghĩa cũ. Họ
Đào trở về Trung
Quốc báo cáo việc này với Tổng lý
Chu Ân Lai, tuy nhiên quan hệ ngoại giao hai nước lúc ấy không còn mặn mà như
trước vì cuộc “Đại cách mạng văn hóa” nên đề nghị của ông Hồ tạm thời bị xếp
lại.
Mối tình đầu của Nguyễn Ái Quốc với cô Breiere
Breiere và Bourdon
Breiere có phải là người tình đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc hay không, việc này xác minh không khó. Qua
quá trình thẩm xét, các hồ sơ liên quan đến Nguyễn Ái Quốc đều cho thấy, Breiere đúng là người tình đầu tiên của ông. Mối quan hệ tình ái này, cả trong tác phẩm của William J. Duiker và Nguyễn Thế
Anh đều không được đề cập đến, bởi các nhà nghiên cứu quan niệm, chuyện yêu
đương thời kỳ đầu của Nguyễn thường là giả tạo, thậm chí còn bị tô vẽ phóng đại
với mục đích chính trị.
Người tình đầu
tiên của Nguyễn
Ái Quốc là một phụ nữ Pháp tên
Breiere, chẳng hiểu vô tình hay hữu ý đã bị lẫn lộn với mối tình của nữ chiến
sĩ cách mạng Nguyễn Thị Minh Khai. Việc làm này rõ ràng có ý đồ tạo ra một giả
tượng đồng nhất Hồ Chí Minh với Nguyễn Ái Quốc. Giáo sư Nguyễn Thế Anh trong tác phẩm “Con
đường chính trị của Hồ Chí Minh”, khẳng định người tình đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc là cô Bourdon, còn William J. Duiker trong
“Truyện Hồ Chí Minh”, trang 76 lại ghi người tình đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc là cô Bourdon Breiere. Có nhiều khả năng, từ
tiếng Pháp chuyển dịch sang tiếng Trung, danh xưng này bị phiên âm khác đi. Theo các tài liệu lịch
sử để lại, cô Breiere và cô Bourdon đều là người tình của Nguyễn Ái Quốc thời kỳ đầu đến nước Pháp thực chất chỉ là một
người. William J. Duiker dẫn theo tài liệu thời kỳ đầu còn Nguyễn Thế Anh dẫn
theo tài liệu ở thời kỳ kết thúc của mối tình này nên mới có sự bất đồng.
Mối tình đầu của Nguyễn Ái Quốc
Giáo sư Nguyễn Thế Anh trong “Con đường chính trị của Hồ Chí Minh ” có ghi chép về mối tình đầu của HCM như sau
: “ Năm 1923, HCM từng bị thất tình với một cô gái người Pháp là Bourdon. Cô
này đã trách móc Hồ vì việc Hồ tuyên bố với mọi người cô là vợ mình. Từ một bức
thư đề ngày 10 tháng 5 năm 1923, Hồ Chí Minh gửi cho Bourdon có thể biết được mối quan hệ tình ái của họ trong thời
gian ấy : “Nhận được thư của em làm anh vô cùng sung sướng. Anh cũng gửi đến em
lời cảm ơn về những tấm ảnh đẹp. Anh tạm gửi lại em hai tấm, còn giữ lại ba tấm, nếu có thời gian sẽ in tráng. Mong em
cho phép anh in tráng hai bộ, một bộ gửi em, một bộ anh giữ để làm kỷ niệm tình
đồng chí của chúng ta”. Sau đó hai người còn thư từ qua lại với nhau một thời
gian nữa, hẹn sẽ có ngày gặp mặt. Có khả năng, theo lá thư đề ngày 11 tháng 6
năm 1923 gửi cho Bourdon, Hồ Chí Minh viết : “ Vừa
nhận được thư cô, xin cô hãy giữ gìn các tấm ảnh, nhưng không cần thiết phải
phóng đại số ảnh ấy. Đọc thư, tôi rất sửng sốt, không sao hiểu được ý tứ của
những lời nói ấy. Nếu cô nghĩ rằng tôi làm việc ấy, xin mời cô hãy đến quán ăn,
ta sẽ làm rõ sự thật”. (Tác giả nhận định, thời gian ấy, Nguyễn Ái Quốc làm việc tại một hiệu ảnh , còn cô Bourdon có
thể làm làm bồi bàn trong một nhà hàng). Trích dẫn từ một lá thư do Cục Bảo an
Pháp thu được, hiện bảo tồn tại Trung tâm hồ sơ Pháp quốc hải ngoại (SLOTFOM),
hàng thứ 2, hòm số 4), William J. Duiker trong “Truyện Hồ Chí Minh”, chương 2,
trang 76, viết : “ Năm 1921, Nguyễn Ái Quốc quyết định
gia nhập Đảng Cộng sản Pháp, việc này đã tạo ra sự căng thẳng với nhóm người cùng
ngụ trong biệt thự Globin. Họ xem Nguyễn là nhân vật cấp tiến và hành
động của anh ta có mùi vị súng đạn. Thời kỳ Hội nghị Versailles, Nguyễn Ái Quốc có kể với người đồng hương là Trần Tiến Nam về
người bạn gái bất đồng quan điểm với mình vì cô cho rằng anh ta có tư tưởng cực
đoan. Cũng cuốn sách trên, trang 593 (chú giải số 49), có ghi : “Căn cứ Hồ sơ
Pháp quốc hải ngoại của Trung tâm viễn chinh quân bảo hộ, tủ thứ 36, ngày 27
tháng 12 năm 1920, Deveze viết như sau : “Người bạn gái là Breiere, cảnh sát
tin là nhân tình của Nguyễn Ái Quốc”.
Mối tình đầu giữa Nguyễn Ái Quốc và Breiere là tình yêu chân chính của những người tuổi trẻ. Nó thường
bị lợi dụng gắn kết với mối tình giữa Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thị Minh Khai, cố ý gây lẫn lộn, làm mối tình đầu thất bại này mang phong vị lãng mạn, tạo ra
một hình ảnh Hồ
Chí Minh thánh nhân, đạo đức “
đất nước chưa độc lập thống nhất , Hồ Chí Minh không thể xây dựng gia đình riêng”. Theo các đề mục ở phần sau của tác
phẩm “ Hồ Chí
Minh vì sao không lấy vợ?” và
“Tình yêu vượt qua Hồng Hà, truyện tình Hồ Chí Minh”, hai thiên này rất không
đúng sự thực, chứng tỏ vòng hào quang chung quanh Hồ Chí Minh chỉ là
thần thoại giả tạo.
Nghi án ái tình giả tạo
HCM vì sao suốt đời không lấy vợ?, tờ “Nhân dân nhật
báo” Trung Quốc, bản hải ngoại (bản số 3, ngày 16 tháng 9 năm 2000), Hồ Văn
Sinh viết : “Năm 20 tuổi Hồ Chí Minh lên một chiếc
tàu thủy đến nước Pháp, bắt đầu tìm thấy chân lý ở chủ nghĩa Marx – Lenin. Trên
đường đi, ông làm quen với một cô gái xinh đẹp người Việt, dáng mảnh mai, tính tình nhu thuận. Họ nhanh chóng
có tình cảm với nhau. Khi Hồ Chí Minh tham gia “Phong trào vận động giải phóng dân
tộc Việt Nam” thì người bạn gái yêu thương bị kẻ thù giết hại một cách thảm
khốc. Một hôm, ông đến gặp các nhà lãnh đạo chủ chốt của Việt Nam thanh niên
cách mạng đồng chí hội trịnh trọng tuyên bố :” Một khi Việt Nam chưa giải phóng, đất nước chưa thống nhất thì đời
này, kiếp này tôi nhất định không thành gia thất”. Từ Đại lục, “Phúc Kiến kiều
báo” có đăng tải bài : “Tình yêu vượt qua Hồng Hà, chuyện tình Hồ Chí Minh” với
nội dung như sau : “Năm 20 tuổi, Hồ Chí Minh rời quê hương Nghệ An ra đi trên
một chiếc tàu thủy đến nước Pháp tìm chân lý qua nghĩa Marx- Lenin để giải
phóng dân tộc. Hai tháng lênh đênh trên biển, ông làm quen với một cô gái con
nhà gia thế, dáng vóc xinh đẹp, tính tình nhu thuận. Ông Hồ là một thanh niên
cao thượng, phong cách tao nhã, làm việc cần mẫn không nghỉ, quyết chí hiến
thân cho lý tưởng quốc gia độc lập, dân tộc giải phóng, làm người thiếu nữ vô
cùng cảm động và ái mộ. Năm 1923, Hồ Chí Minh đi Liên Xô học tập. Một thời
gian sau người yêu của ông cũng được cử qua đường Liên Xô về nước truyền bá
ngọn lửa cách mạng. Cặp tình nhân níu áo, rơi lệ từ biệt nhau. Sau đó, Hồ Chí Minh từ Liên Xô trở về Quảng Châu Trung Quốc vận động thành lập Việt Nam thanh niên cách mạng
đồng chí hội và “Hội liện hiệp
các dân tộc Á Đông bị áp bức”. Đúng vào lúc Hồ Chí
Minh toàn tâm toàn ý hoạt động cho sự
nghiệp giải phóng dân tộc Việt thì một tin dữ truyền đến, người yêu của ông bị
kẻ thù sát hại một cách thảm khốc. Hồ Chí Minh đau đớn tưởng như không thể sống
được nữa. Một ngày, ông đến gặp các cán bộ chủ chốt của Việt Nam thanh niên cách mạng
đồng chí hội trịnh trọng tuyên bố
: “ Việt Nam chưa giải phóng, đời này, kiếp này, tôi quyết không thành gia
thất”.
Tăng Tuyết Minh, người vợ đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc
Câu
chuyện hôn nhân, ái tình của Nguyễn Ái Quốc và Tăng Tuyết Minh
Tháng 11 năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu đổi tên thành Lý Thụy. Vào một ngày cuối năm 1925, Tăng
Tuyết Minh đến trụ sở “Hội Phụ nữ vận động diễn tập” tìm gặp Thái Sướng, lúc
xuống lầu, bất ngờ gặp Lý Thụy ở chỗ rẽ cầu thang. khi ấy, hai người chẳng để ý
gì đến lễ tiết mà cùng đối mặt nhìn nhau. Lý Thụy bị phong thái cao nhã, dáng
vẻ rạng rỡ của cô bắt mất hồn, khi lên gác, không nén được bèn hỏi Thái Sướng :
“Vị tiểu thư vừa rời khỏi đây tên là gì và có quan hệ thế nào với Hội Phụ nữ?”.
Thấy Lý Thụy dường như đã có tình ý với Tăng Tuyết Minh nên Thái Sướng vui vẻ giới thiệu nhân thân cô gái Quảng Châu với anh
ta, đồng thời, cùng Đặng Dĩnh Siêu đứng ra làm mối cho cuộc nhân duyên này.
Tăng Tuyết Minh sinh tháng 10 năm 1905 tại Quảng Châu, nguyên
quán trấn Tông Khẩu, huyện Mai, tỉnh Quảng Đông. Cha là Tăng Khai, nhà buôn, đã
từng kinh doanh ở Honolulu
(nước Mỹ), cả nhà theo đạo Cơ
Đốc. Tăng Tuyết
Minh là con gái út của gia đình.
Từ năm 1912 đến năm 1917, Tuyết Minh học tư thục tại Quảng Châu qua các trường Trấn Quang tiểu học và Đệ thập
tứ Quốc dân tiểu học. Mùa xuân năm 1923, Tăng Tuyết Minh vào học trường Nữ hộ sinh, năm 1925 tốt
nghiệp. Sau khi được hiệu trưởng Hoàng Ngọc Anh giới thiệu, cô đến làm nữ y tá
trợ sản Sở Y vụ La Tú Vân Quảng Châu. Lúc ấy, Tăng Tuyết Minh vừa tròn hai mươi tuổi. Đương thời, Quảng Châu được xem
như trung tâm cách mạng. Hà Hương Ngưng, Đặng Dĩnh Siêu, Thái Sướng sáng lập tổ
chức “Phụ nữ vận động diễn tập”. Chịu ảnh hưởng của tư tưởng cách mạng, Tăng Tuyết Minh thường đến trụ sở Hội Phụ vận nghe diễn
thuyết, tham gia hoạt động, kết bạn thân thiết với Đặng Dĩnh Siêu và Thái
Sướng.
Tăng Tuyết Minh có người anh thứ hai Tăng Cẩm Tương là bạn cũ
của Tôn Trung Sơn, tinh thông năm ngoại ngữ, văn bút tinh xảo, là giảng viên
đại học. Tăng giáo thụ mời Lý Thụy đến nhà. Trong khi nói chuyện, thấy Lý Thụy
khiêm nhường, tự tin, thiết thực, nhiệt tình, có viễn kiến, lịch duyệt và biết
nhiều ngoại ngữ, ông đã thay mặt gia đình tác thành cho đôi lứa. Ngày 18 tháng mười năm 1926, hôn lễ được cử hành long trọng tại nhà hàng
Thái Bình Dương trước sự chứng kiến của đông đảo quan khách do Đặng Dĩnh Siêu,
Thái Sướng chứng kiến và chủ trì. Cố vấn Nga Xô Mikhail Borodin, trợ thủ đắc
lực của Trương Thái Lôi cũng đến chúc mừng.
Cuối năm 1926, Tăng Tuyết Minh mang thai. Lý Thụy khấp khởi mừng thầm vì sắp được hưởng niềm vui làm
bố. Có điều, mẹ Tăng
Tuyết Minh là Lương Thị, sau khi
biết việc này, sợ con gái sinh cháu bé sẽ theo chồng đi mất nên đã tìm mọi cách
ép nàng phá thai. Tuy Tăng Tuyết Minh có những
mười anh chị em, nhưng trừ anh hai Tăng Cẩm Tương, còn lại đều sống xa gia
đình. Cha mất sớm, mẹ tuổi già cô độc, vì chữ hiếu, nàng khó mà trái lời khuyên
của mẹ nên đã gặp Lý Thụy nói sự thật rồi nuốt nước mắt bỏ đi cốt nhục của
mình, để lại mối hận cho đến cuối đời. Từ khi kết hôn đến lúc hai người chia
tay chưa đầy một năm.
Tình hình cách mạng Trung Quốc biến chuyển nhanh. Ngày 12 tháng 4 năm 1927, Tưởng
giới Thạch gây ra sự kiện "Trung Sơn Hạm" triệt để phản bội cách mạng, điên cuồng truy sát các
đảng viên Cộng sản, tạo thành vụ khủng bố trắng tanh máu
người làm chấn động dư luận quốc tế. Trước tình hình nghiêm trọng, Lý Thụy nhận
chỉ thị của Quốc
tế cộng sản, theo đoàn cố vấn Nga
Xô đi Vũ Hán, chuyển qua Thượng Hải, sau đó đến Vladivostok để đi Mạc Tư Khoa. Từ đó vợ chồng mỗi người một phương.
Năm 1929, Lý Thụy đến Hương Cảng đổi tên thành Tống
Văn Sơ, tháng 2 năm 1930, theo chỉ thị của Quốc tế cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tại
Cửu Long, Hương Cảng. Tháng 6 năm 1931, Tống Văn Sơ bị nhà cầm quyền Hương Cảng
bắt giam tại nhà lao Victoria. Tống Văn Sơ tìm cách báo tin cho Tăng Tuyết Minh
biết việc mình bị câu lưu. Được tin, các chị gái Tăng Tuyết Minh nhiệt tình giúp đỡ bằng cách mời luật sự biện hộ để
em rể thắng kiện trước tòa. Tăng Tuyết Minh theo các
chị đến nơi mới biết Tống Văn Sơ chính là Lý Thụy, chồng mình, vội đến nhà giam
thăm nhưng không được gặp đành gạt nước mắt ra về.
Năm 1958, Viện Vệ sinh y vụ Quảng Châu tiến hành chỉnh
phong với phương châm “đại minh, đại phóng”. Trong đám đồng sự có người tố cáo, trước đây Tăng Tuyết Minh và Nguyễn Ái Quốc có quan hệ hôn nhân mờ ám làm kinh động cả giới lãnh đạo ngành y tế.
Sau mấy lần tra vấn, truy hỏi, Tăng Tuyết Minh chỉ nói,
người có sự trùng tên, vật có sự đồng dạng, chuyện hôn nhân có tính chất quốc
tế này là bịa đặt. Căn cứ vào sự phủ
nhận của đương sự, hơn nữa, đây là sự việc trọng đại, lãnh đạo ngành y tế bèn
làm văn bản gửi lên chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ Trung Quốc Thái Sướng. Thái Sướng liền gửi công văn cho
Tỉnh ủy Quảng Đông nói rõ, Lý Thụy là một bí danh của Hồ Chia Minh thời kỳ ở Quảng Châu, đồng thời cũng xác nhận
Tăng Tuyết Minh và Hồ Chí Minh đã từng là vợ chồng. Tuy nhiên,
chuyện này liên quan đến quan hệ hai nước, không được làm ảnh hưởng đến tình
hữu nghị Trung - Việt, sự việc mới lắng xuống.
Liệu Hồ Chí Minh có biết Tăng Tuyết Minh vẫn còn sống hay không? Vì sao ông ta không thông qua Trung ương Đảng
Cộng sản Trung Quốc nhờ tìm người vợ đã mất tin nhiều năm? Tăng Tuyết Minh một thân cô quả, thủ tiết chờ chồng từ năm
hai mươi mốt tuổi, làm nghề nữ hộ sinh, trải qua sóng gió Cách mạng văn hóa rồi
nghỉ hưu, một thân một mình cho đến năm 1991 thì qua đời ở tuổi 86.
Vợ tôi, đối với Tăng Tuyết Minh thuộc hàng cháu, thường gọi bằng “cô Mười”. Từ khi sinh ra đến lúc qua
đời bà đều sống ở Quảng Châu, là tín đồ trung thành của đạo Cơ Đốc, ngày đêm
cầu khấn cho Lý Thụy bằng an. Năm 1988, khi tôi cùng vợ về Quảng Châu viếng
thăm bà cô Mười, trong ký ức bà vẫn nhớ
đến Hồ Chí
Minh lúc chia tay từ mấy chục năm
trước. Bà kể tường tận cho chúng tôi nghe về thời kỳ quen biết Hồ Chí Minh, nảy sinh tình cảm nam nữ rồi quá trình tổ
chức hôn lễ rất xúc động. Tôi gửi lại bà tấm ảnh quý và bức thư ngày trước viết
cho Hồ Chí Minh mà bà gửi tôi giữ hộ. Lúc ấy trong tay vợ tôi
còn có chiếc nhẫn hồng ngọc mà Lý Thụy đã tặng bà cô Mười lúc đính hôn cùng với
tấm rèm cửa cố vấn M. Borodin chúc mừng hôn lễ. Những vật kỷ niệm này được gia
đình tôi coi như bảo vật truyền gia của người bà để lại. Vào dịp kỷ niệm ngày
sinh 111 của Hồ
Chí Minh và 96 năm của Tăng Tuyết Minh, tôi, với tư cách là thành viên Sở Nghiên cứu
văn sử thành phố Vũ Hán, Ủy viên Chính hiệp thành phố, là nhà thư pháp, hiểu
rất rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của mình khi soạn cuốn sách này. Bởi vì cuốn
sách chính là tấm lòng kính yêu của một kẻ hậu sinh tưởng nhớ đến người cô Tăng Tuyết Minh, cho dù tình cảm bị tổn thương vẫn một lòng
chung thủy chờ chồng, suốt đời cam chịu sống độc thân, và lãnh tụ Hồ Chí Minh , chiến sĩ đấu tranh không mệt mỏi vì sự
nghiệp cách mạng dân tộc, vì sự nghiệp cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới, suốt đời sống độc thân, không mưu cầu hạnh phúc
cho riêng mình. Dù thời gian qua đi nhưng tình cảm của hai người vẫn không thay
đổi, một lòng một dạ trung trinh, đời đời ghi vào lịch sử.
Hồ
sơ về hôn nhân, tình ái giữa Nguyễn Ái Quốc và Tăng Tuyết Minh
Viết về hôn nhân và tình ái của Hồ Chí Minh, có thể điểm đến các tác phẩm “Hồ Chí Minh và
người vợ Trung Quốc Tăng Tuyết Minh”, dài khoảng 4200 chữ, do Từ Song Minh
(cháu của người chị gái bà Tăng Tuyết Minh viết),
Khổng Khả Lập phê bình, chú giải tại nguyệt san “Vũ Hán văn sử tư liệu”, năm
2001, kỳ 1, William J. Duiker, với “Truyện Hồ Chí Minh”
gồm hai phần, cả hai phần này đều lấy tư liệu từ “Trung tâm quân viễn chinh bảo
hộ” thuộc "Hồ sơ Pháp quốc hải ngoại”, hòm số 367, tiêu
đề “Hồ sơ Nguyễn Ái Quốc, 1926 – 1927).
Phần thứ nhất, chương 4, trang 143 “Long đích truyền
nhân” ( Người nối dòng rồng), nội dung như sau : “Mùa xuân, năm 1927, Nguyễn Ái Quốc dừng lại ở Quảng Châu già nửa năm. Ông ta đã
trở thành nhân vật trọng yếu được các thành viên trong đảng đoàn kính nể, đồng
thời cũng kiến lập được mối quan hệ rất tốt với nhà cách mạng Chu Ân Lai,
Trương Thái Lôi và các lãnh tụ Quốc dân đảng cánh tả (là đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc) Liêu Trọng Khải v.v…Đến lúc ấy, chẳng những Nguyễn Ái Quốc đã ổn định cuộc sống tại Trung Quốc mà còn muốn tìm một người vợ để học Trung
văn, đồng thời lo liệu mọi sinh hoạt gia đình. Không lâu sau, một người đồng sự
là Lam Đức Thư (Lâm Đức Thụ?!) giới thiệu với Nguyễn Ái Quốc một thiếu nữ là Tăng Tuyết Minh để hai người làm quen. Tuy cô gái là con một
gia đình có giáo dục nhưng một số đồng nghiệp vẫn không tán thành. Nguyễn Ái Quốc bất chấp mọi phản đối, quyết định cầu hôn.
Sau hôn lễ, hai người chuyển đến ở một phòng trên tầng 2 biệt thự của M.
Borodin. Việc này đã được báo cáo với Mạc Tư Khoa”.
Một phần khác, ghi chép tại chương 6 “ Xích sắc Nghệ
Tĩnh” ( Màu đỏ Nghệ Tĩnh), trang 188-189 viết” Tình yêu giữa Nguyễn Thị Minh Khai và Nguyễn Ái Quốc không phải mọi người đều biết, thậm chí cũng chẳng biết có hay không
hôn lễ cử hành chính thức. Từ tháng 4 năm 1927, tuy Nguyễn Ái Quốc đã rời Trung Quốc,
vẫn còn chưa chưa mất hết dấu tích, chứng cứ là , vào năm 1930, Tăng Tuyết Minh ngẫu nhiên gặp lại chồng ở Hương Cảng nhưng
cuối cùng quan hệ giữa hai người vẫn không nối
lại. Theo một đồng chí của Nguyễn Ái Quốc là Lam Đức
Thư (Lâm Đức Thụ?!) nói với một người quen ở Cục Bảo an : “ Tăng Tuyết Minh chê Nguyễn Ái Quốc nhiều tuổi, không hợp với mình, đồng ý kết hôn chỉ vì lý do kinh tế”.
Khoảng gần một năm sau, khi Nguyễn Ái Quốc rời Quảng
Châu có gửi cho Tăng
Tuyết Minh một bức thư : "Hai ta phân ly gần một năm, cho dù không nói được lời
nào nhưng anh vẫn thấy tình cảm chẳng khác gì ngày trước. Anh viết gửi em mấy dòng này làm vật chứng, xin
em chắp tay trước nhạc mẫu chuyển lời của anh chúc phúc đến bà”. Khi quan hệ
hôn nhân của Nguyễn
Ái Quốc và Tăng Tuyết Minh chấm dứt, vào năm 1931, ông bắt đầu có quan
hệ luyến ái với với một nữ đồng chí trẻ tuổi người đồng hương là Nguyễn Thị Minh Khai, đồng thời đề nghị Cục Viễn Đông tổ chức đám
cưới cho hai người. Giáo sư Hoàng Tranh, viện trưởng Viện Khoa học lịch sử
Quảng Tây, đã dành nhiều thời gian và tâm huyết nghiên cứu về mối quan hệ Trung
Việt và Hồ Chí
Minh . Sau nhiều năm điều tra,
khảo chứng, ông đã viết trên tờ “Đông Nam Á tung hoành” (Dọc ngang Đông Nam Á),
kỳ 12, tháng 11, năm 2001, kết luận Hồ Chí Minh đích xác có một người vợ Trung Quốc là Tăng Tuyết Minh.
Trung
Cộng ẩn giấu chuyện hôn nhân Tăng Tuyết Minh
Nguyễn Ái Quốc và Tăng Tuyết Minh, năm 1925 bắt đầu có quan hệ luyến ái, năm 1926 kết hôn, vậy vì sao,
người cháu con bà chị là Từ Song Minh đến năm 2000 mới công bố bài viết “Hồ Chí
Minh và người vợ Trung Quốc Tăng Tuyết Minh” kể về chuyện hôn nhân của bà Cô
Mười? Qua sử liệu và quá trình nghiên cứu, đối chiếu, ta có thể thấy bên trong
sự kiện này có nhiều vấn đề phức tạp. Sự thật cuộc hôn nhân này dường như đã bị
ban lãnh đạo Cộng sản VN bưng bít, xem như một loại tài liệu cơ mật không thể
công bố. Năm 2000, William J. Duiker xuất bản cuốn “Truyện Hồ Chí Minh”, tập 1,
tác giả có đề cập đến chi tiết, một đồng chí của NAQ là Lam Đức Thư (Lâm Đức
Thụ?!) tố cáo với Cục Bảo an Pháp như sau : “Tăng Tuyết Minh chê Nguyễn Ái Quốc nhiều tuổi,
không phù hợp với mình, chấp nhận kết hôn chẳng qua là do nhu cầu kinh tế”. Đoạn
này rất không phù hợp với sự thực lịch sử, bởi nó đã vu khống tình yêu chân
chính (sinh tử luyến) và tấm lòng trung trinh của Tăng Tuyết Minh với Nguyễn Ái Quốc, bôi nhọ nhân cách và danh dự của bà làm cho Từ Song Minh vô cùng phẫn
nộ đối với William J. Duiker. Vì thế, năm 2001, ông mới viết bài “Hồ Chí Minh
và người vợ Trung Quốc Tăng Tuyết Minh” do Khổng Khả Lập phê bình, đăng tại
nguyệt san “Vũ Hán văn sử tư liệu”. Bài báo cực lực phản bác Lam Đức Thư vu
khống, đồng thời khẳng định tình cảm của bà cô Tăng Tuyết Minh đối với Nguyễn Ái Quốc trước sau như một không hề thay đổi. Qua bài viết, Từ Song Minh cũng
đã làm sáng tỏ giai đoạn bị ẩn giấu sau 75 năm quan hệ hôn nhân của Nguyễn Ái Quốc và Tăng Tuyết Minh, từ đó cũng chứng minh được Trung Cộng và Việt cộng luôn tìm cách che
giấu sự thật lịch sử này.
Trong “Hồ Chí Minh và người vợ Trung Quốc” có đoạn
viết : " Ngày 19 tháng 5 năm 1950, Tăng Tuyết Minh đọc tờ “Văn hối báo” thấy in ảnh chân dung Hồ Chí Minh cùng
điện văn chúc mừng sinh nhật lần thứ 60 của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và chủ tịch Mao Trạch Đông kèm theo bài viết
về cuộc đời hoạt động và sự nghiệp văn chương của ông. Đến lúc ấy bà mới biết,
hình bóng người chồng thân thương lúc nào cũng thấp thoáng hiện về trong giấc
ngủ hàng đêm chính là chủ tịch Hồ Chí Minh . Tuy nhiên
mọi cố gắng của Tăng
Tuyết Minh liên hệ với Hồ Chí Minh đều không có kết quả. Trong “Thê thiếp, nhân
tình của Hồ Chí Minh”, “Lĩnh Nam di dân” viết : “Tháng 5 năm 1950, Tăng Tuyết Minh đọc “Nhân dân nhật báo” mới biết người chồng
xa cách hơn hai mươi năm là Hồ Chí Minh , chủ tịch
nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa. Bà đã mấy lần gửi
thư đến Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh cho
Hoàng Văn Hoan nhưng không bao giờ nhận được hồi âm. Sau năm 1954, Tăng Tuyết Minh lại đề nghị với nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cho sang Hà Nội gặp Hồ Chí Minh nhưng cuối cũng vẫn bị lãnh đạo Trung Cộng cự
tuyệt.
Theo tinh thần của bài viết, rõ ràng cho thấy, Nguyễn Ái Quốc của năm 1926 và Hồ Chí Minh của năm 1950 là cùng một người. Trung Cộng và
Việt Cộng vì muốn che dấu thân phận thật của Hồ Chí Minh nên không dám dể Tăng Tuyết Minh gặp mặt ông ta. Người chủ trì hôn lễ lúc ấy là Thái Sướng và Đặng Dĩnh
Siêu biết rõ Hồ
Chí Minh năm 1950 không phải là Nguyễn Ái Quốc (Lý Thụy) năm 1926, chỉ biết giả câm giả
điếc, biết rõ Tăng
Tuyết Minh đau khổ mà không làm
gì được.
Hôn
nhân Tăng Tuyết Minh, thật giả - một vụ án kép
Trong “ Hồ Chí Minh và người vợ Trung Quốc Tăng
Tuyết Minh” có đoạn: “ Năm 1958, Viện Vệ sinh y vụ Quảng Châu tiến hành chỉnh
phong với phương châm “đại minh, đại phóng”. Trong đám đồng sự có người tố cáo
trước đây Tăng
Tuyết Minh và Hồ Chí Minh có quan hệ hôn nhân mờ ám làm kinh động cả
giới lãnh đạo ngành y tế. Sau mấy lần tra vấn, truy hỏi, Tăng Tuyết Minh chỉ nói: người có sự trùng tên, vật có sự
đồng dạng, chuyện hôn nhân có tính chất quốc tế này là bịa đặt. Căn cứ vào sự phủ nhận của đương sự, hơn
nữa, đây là sự việc trọng đại, lãnh đạo ngành y tế bèn làm văn bản gửi lên chủ
tịch Hội liên hiệp phụ nữ Trung Quốc Thái Sướng. Thái
Sướng liền gửi công văn cho Tỉnh ủy Quảng Đông nói rõ, Lý Thụy là một bí danh
của Hồ Chí Minh thời kỳ ở Quảng Châu, đồng thời cũng xác nhận Tăng Tuyết Minh và Hồ Chí Minh đã từng là vợ chồng. Tuy nhiên,
chuyện này nếu xử lý không thận trọng sẽ ảnh hưởng đến quan hệ hữu nghị hai
nước, nội vụ mới được dẹp yên”.
liệu Hồ Chí Minh có biết Tăng Tuyết Minh vẫn còn sống hay không? Vì sao ông ta không
thông qua Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nhờ tìm người vợ đã mất tin nhiều
năm?
Trong “Mối tình nồng thắm giữa Hồ Chí Minh và Lâm Y
Lan” có đoạn viết : “ Năm 1958, bên bờ sông, tại Hà Nội, hai ông già thong thả
buông cần câu cá, đó chính là Hồ Chí Minh và Đào Chú. Hồ Chí Minh thần sắc khác thường trịnh trọng nói với Đào
Chú: “Trung Quốc có câu ‘Lúc trẻ là vợ chồng, về già là bạn’.
Tôi và Lâm Y Lan quen biết nhau đã hơn 20 năm, vì sự nghiệp cách mạng đành gác
lại tuổi thanh xuân, giờ muốn đón Y Lan sang Hà Nội, bí mật cử hành hôn lễ để
thỏa nguyện mong ước bấy lâu”. Sau khi về nước, Đào Chú báo cáo với Chủ tịch
Mao Trạch Đông đề đạt nguyện vọng của Hồ Chí Minh.
Khi ấy Tổng lý Chu Ân Lai và các vị lãnh đạo cao cấp cũng có
mặt, vô cùng kinh ngạc. Về phía mình, Bắc Việt vội triệu tập cuộc họp Bộ Chính
trị để biểu quyết về sự kiện đặc biệt này”.
Hai bài báo trên đều xuất hiện vào năm 1958. “Hồ Chí
Minh và người vợ Trung Quốc Tăng Tuyết Minh” xuất hiện vào thời kỳ Trung Cộng
“đại minh, đại phóng”, sự kiện hôn nhân của Tăng Tuyết Minh và Nguyễn
Ái Quốc bị hiểu sai. Thân phận
nhân vật nam chính Nguyễn
Ái Quốc bị biến thành Hồ Chí Minh theo kiểu “râu ông nọ cắm cằm bà kia’ hay “hồn
Trương Ba da hàng thịt” tạo nên sóng gió của một vụ án kép (song bào án). Bài
“Mối tình nồng thắm của Hồ Chí Minh và Lâm Y Lan” kể về việc Hồ Chí Minh nhờ Đảng Cộng sản Trung Quốc nối lại mối quan hệ hôn nhân với người phụ nữ
Quảng Đông Lâm Y Lan. Hai sự kiện hôn nhân và tình ái trên đã thể hiện rất rõ
sự khác nhau của mỗi trường hợp. Hoàn cảnh xuất hiện con người và tình yêu cũng
không giống nhau. Tình yêu của Nguyễn Ái Quốc với Tăng Tuyết Minh có Đặng Dĩnh Siêu, Thái Sướng, M. Borodin,
Trung Cộng và Quốc
tế cộng sản chứng kiến. Tình yêu
giữa Hồ Chí Minh và Lâm Y Lan có Mao Trạch Đông, Đào Chú của
Trung Cộng, Tổng Bí thư Lê Duẩn và các Ủy viên BCT Cộng đảng Việt Nam biết rõ.
Có thể khẳng định, bất cứ ai , nếu không biết rõ, sẽ
không dám tự tiện đưa sự kiện này lên báo chí, càng không thể có gan bịa đặt, hư cấu. Cho nên,
hai bài báo về hai sự kiện hôn nhân mâu thuẫn nhau như đã trình bày phải được
khẳng định là có cơ sở thực tế.
Tăng
Tuyết Minh lúc tuổi già – Tấm ảnh chân dung
Bài “Hồ Chí Minh và người vợ Trung Quốc Tăng Tuyết
Minh”, phần cuối kèm thêm hai tấm ảnh chân dung, một trong hai tấm có dòng chữ
“Tăng Tuyết Minh lúc tuổi già”. Trên tường treo ảnh chân dung Hồ Chí Minh chụp năm 1960, nhưng nếu so với tấm ảnh Lý
Thụy, tức Nguyễn
Ái Quốc treo trước tủ gương thì
hai khuôn mặt rất không giống nhau. Tấm ảnh Nguyễn Ái Quốc chụp năm 1930 có đeo cravate. Tác phẩm “Truyện Hồ Chí Minh”, của giáo
sư William J. Duiker, trong một trang ảnh kèm theo có hai tấm chân dung Nguyễn Ái Quốc và tấm chân dung Tăng Tuyết Minh để trong hộp gương gần như giống nhau hoàn
toàn. W.J. Duiker nói rõ về tấm ảnh bên cạnh : “Hồ Chí Minh nói với bạn bè lànsuốt
đời ông chưa bao giờ thắt cravate”, nhưng căn cứ vào tấm ảnh chân dung, có thể
chứng minh, Hồ
Chí Minh bảo mình chưa bao giờ
thắt cravate là chuyện hoang đường. Từ chi tiết trên, bất giác tôi nhận ra được
cái lý trái ngược của sự hoang ngôn ấy. Bởi
vì, từ đầu chí cuối William J. Duiker luôn cho rằng Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh chỉ
là một người nên mới có chuyện nghi ngờ Hồ Chí Minh suốt
đời chưa từng thắt cravate. Khẳng định Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh không phải là hai người, William J. Duker giải
thích thế nào về lời thanh minh của ông ta?
Kiểm tra tỷ mỉ các tấm ảnh chân dung từ sau năm 1933
kèm theo hồ sơ, bất kể là Hồ Chí Minh chủ trì các
hội nghị lớn nhỏ, phát biểu trước đồng bào toàn quốc, cũng như các chuyến xuất
ngoại sang Liên
Xô, Trung Quốc, Ấn Độ hay nước Pháp…đều chưa thấy ông đeo
cravate. Nói chung, trang phục thường xuyên của Hồ Chí Minh chỉ là loại quần áo đồng màu như Lenin hoặc Tôn Trung
Sơn. Cách ăn mặc này có phần chất phác, không mấy coi trọng hình thức, thậm chí
còn có vẻ quê mùa. Đây chính là kiểu sinh hoạt
rất đặc biệt của Hồ
Chí Minh .
Ngược lại, cách ăn mặc của Nguyễn Ái Quốc lại tỏ ra rất hợp thời trang. Ví dụ, năm
1907, lúc Nguyễn
Ái Quốc 17 tuổi, rời nhà vào Huế
học hệ sơ học Trường Quốc học, bị bạn bè trêu chọc, chế giễu đã chủ động cắt
tóc ngắn, trang phục như trào lưu thời thượng. Tại nước Pháp, Liên Xô hay Trung Quốc, cho dù gặp lúc
kinh tế quẫn bách, nhưng tại các cuộc họp, Nguyễn Ái Quốc vẫn tạo mọi điều kiện để mặc Âu phục, thắt cravate. Những tấm ảnh còn
lại được lưu trong hồ sơ của ông đã chứng thực nhận xét trên. Trong “Thê thiếp
và nhân tình của Hồ Chí Minh”, “Lĩnh Nam di dân” từng viết : "Con gái Vera Vasilieva từng nói với Sophie Quinn -
Judge, Nguyễn Ái Quốc ăn mặc cực kỳ chỉnh tề và đúng
mốt thời trang. Ông ta thường phối hợp màu sắc một cách hài hòa khiến mọi người
đều phải chú ý vào chiếc cravate. Hơn nữa, trên người Nguyễn lúc nào cũng phảng
phất mùi nước hoa càng tăng thêm vẻ lịch lãm”. Phía sau tấm ảnh chân dung dường
như còn ẩn giấu nỗi đau buồn của câu chuyện tình thời trai trẻ.
Khói lửa chiến tranh chứng
kiến tình yêu – Nữ sĩ Nguyễn Thị Minh Khai
Tự khúc bi ca ái tình
Tình yêu và hôn nhân của Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thị Minh Khai vào năm 1930 -1931 trước sau cộng lại không đầy một
năm, vì hai người từ biệt nhau đến Hương Cảng thì
bị cảnh sát bắt giam, kết thúc giai đoạn hôn nhân ngắn ngủi. Cuộc hôn nhân tuy
không dài nhưng lịch sử đã ghi lại rất rõ ràng, trong khói lửa chiến tranh,
tình cảm của đôi lứa thật chân thành. Năm 1932, Nguyễn Ái Quốc bị bệnh qua đời là sự thực, còn Nguyễn Thị Minh Khai, đến năm 1935 cải giá, kết hôn với Lê Hồng Phong cùng là sự thật. Sự
việc này vốn dĩ rất bình thường nếu như không có bàn tay Quốc tế cộng sản thao túng, bí mật đạo diễn màn kịch “Hồn Trương Ba da hàng thịt”, cùng giới chóp bu Trung
cộng và Việt cộng, tạo ra chung quanh Hồ Chí Minh vòng hào quang, biến ông thành
một vị thánh, phỉ báng mối tình đẹp đẽ của Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn
Thị Minh Khai.
Hồ sơ hôn nhân của Nguyễn Thị Minh Khai
1/ William J. Duiker viết về quan hệ hôn
nhân, tình ái của Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thị Minh Khai
William J. Duiker, trong “Truyện Hồ Chí Minh” viết : “
Hồ sơ về tình yêu, hôn nhân của Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn
Thị Minh Khai gồm ba phần. Tư
liệu của ba phần này đều dẫn từ “Trung tâm quân viễn chinh bảo hộ” thuộc “Hồ sơ
Pháp quốc hải ngoại”, hòm số 367 và “ Hồ Chí Minh từ Đông Dương đến Việt Nam”
của Daniel Hách Mai Lý (7) do
NXB Galimard, Paris ấn hành, năm 1990.
Phần
thứ nhất
Tại chương 6 “Màu đỏ Nghệ Tĩnh”, trang 85 viết : “
Tháng 10 năm 1930, tại nhà trọ “Nhất Đống”, phố Khai Di, Cửu Long, Hương Cảng,
khai mạc Hội nghị Trung ương , Nguyễn Ái Quốc là đại biểu
Quốc tế cộng sản được cử làm Chủ tịch ĐCSVN. Cùng dự còn có
một nữ đảng viên trẻ tuổi, mắt sáng, da ngăm ngăm, được ủy nhiệm làm trợ lý cho
Nguyễn Ái Quốc là Nguyễn Thị Minh Khai”
Phần
thứ hai
Cũng tại chương 6, trang 198-199, tác giả viết : “ Nguyễn Ái Quốc tại Hương Cảng chờ tin tức. Từ khi Nguyễn Thị Minh Khai làm trợ lý cho Nguyễn Ái Quốc, hai người đã nảy sinh tình cảm. Minh Khai tuổi trẻ,
ngoại hình hấp dẫn đã làm Nguyễn Ái Quốc mê đắm.
Tình yêu của Nguyễn
Ái Quốc và Nguyễn Thị Minh Khai đến khá nhanh chóng. Vào mùa xuân năm 1932,
hai người đã báo cáo với Cục Viễn Đông đề nghị được kết hôn. Đại biểu Quốc tế cộng sản là
Hilaire Noulens đã gửi thư thông báo cho Nguyễn Ái Quốc vào tháng tư. Tuy nhiên, không lâu sau, Nguyễn Thị Minh Khai, vì bị tình nghi có liên can đến hoạt động phiến
loạn, bị cảnh sát Hương Cảng bắt chuyển về Quảng Châu tống giam vào nhà tù Quốc dân đảng.
Phần
thứ ba
Tại chương 7 “ Đứng trước những biến động”, trang 224-
225, viết : “25 tháng bảy năm 1935, khai mạc Hội
nghị Quốc tế cộng
sản lần thứ VII tại Mạc Tư Khoa, Đảng Cộng sản Đông Dương cử ba đại biểu là Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai và
Hoàng Văn Nọn (Nông) tham gia hội nghị. Ban tổ chức yêu cầu cả ba đại biểu đều
đọc tham luận. Nguyễn
Ái Quốc lúc ấy là Bí thư Cục Viễn
Đông, đến Hội nghị với tư cách quan sát viên, không được phép phát biểu, như
một diễn viên phụ, đóng vai trò bàng quan.
Trước khi Hội nghi khai mạc mấy tháng, Ban
lãnh đạo Đảng
Cộng sản Đông Dương có gửi cho Bí thư thứ nhất Đông Phương cục một
bức thư, kèm theo bản báo cáo mật, nội dung đề cập đến “Nguyễn Ái Quốc phu
nhân”, một đại biểu tham gia Hội nghị. Lời văn ám chỉ Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thị Minh Khai, năm 1932, tại Hương Cảng, trước khi bị cảnh sát bắt
đã từng là vợ chồng. Có lẽ như tác giả Liên Xô Kobenov trong cuốn “Quoc’s wife” (Vợ của Quốc), từng suy đoán,
trên đường sang Mạc Tư khoa, Nguyễn Thị Minh Khai ái mộ
phong độ anh tuấn của Lê Hồng Phong rồi nảy sinh tình yêu chăng? Có khả năng, vào mùa
xuân năm 1931, sau khi chia tay với Nguyễn Ái Quốc rồi bị bắt, đến lúc ấy đã qua 4 năm, tình cảm hai người không còn đằm
thắm như trước. Cho dù sự thực thế nào, thì sau khi Hội nghị VII bế mạc không lâu, Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai đã kết hôn tại Mạc Tư Khoa.
Thời gian Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn
Thị Minh Khai sống với nhau, có
thể nói, nhân thân của Nguyễn Ái Quốc tồn tại
nhiều vấn đề khó lý giải. Trở lại một số năm trước, ông chưa từng nói với các
đồng chí về mối quan hệ này. Tuy nhiên các nhà lãnh đạo Hà Nội lại ra sức phủ
nhận hai người đã từng có quan hệ vợ chồng. Cũng không loại trừ trường hợp, Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thị Minh Khai chưa kịp cử hành hôn lễ chính thức mà chỉ có sự chứng
kiến của một số ít đồng sự làm cơ sở pháp lý. Nguyễn Ái Quốc cùng một lúc mất cả vợ lẫn quyền lãnh đạo, phải chăng, như một nhà quan sát từng nói “hai lần tủi
nhục”.
2/
Sophie Quinn - Judge viết về quan hệ hôn nhân, tình ái của Nguyễn Ái Quốc và
Nguyễn Thị Minh Khai
Trong tác phẩm “Những năm tháng mất tích của Hồ Chí Minh 1919 - 1941”, tài liệu mà Sophie Quinn - Judge dùng để thuật lại quan hệ hôn nhân
của Nguyễn Ái
Quốc và Nguyễn Thị Minh Khai gồm hai phần. Phần một, dẫn từ hồ sơ số 367
của “Trung tâm quân viễn chinh bảo hộ” thuộc “Hồ sơ Pháp quốc hải ngoại”, ngày 12 tháng hai năm 1931 do Victor viết gửi về. Phần hai, dẫn từ
“Lịch sử hiện đại Liên Xô” của “Trung tâm nghiên cứu và lưu trữ” 495/154/688,
trang 14, từ các ngày 14,15,17 tháng 12 năm 1934 và
ngày 31 tháng 3 năm 1935 của Cục Hải ngoại gửi về Mạc Tư Khoa.
Phần một, chương 5 “Cao trào cách mạng”, trang 182,
viết :“ Mùa đông năm 1930, Nguyễn Ái Quốc báo cáo với
Cục Viễn Đông kế hoạch kết hôn. Ngày 12 tháng 1, Cục Viễn Đông gửi văn bản trả
lời, nội dung là Nguyễn
Ái Quốc phải thông báo thời gian
chính xác trước hai tháng. Vì thư hồi đáp không
ghi danh tính người nhận chỉ nên chỉ có thể suy đoán là chuyện hôn sự
của Hồ Chí Minh . Sang tháng hai, Hồ Chí Minh bàn với
Nguyễn Thị Minh
Khai, đầu năm mới, chuẩn bị đón
khách từ Sài Gòn và Đông Kinh đến thăm.
Phần hai, chương 6, có tiêu đề “ Chết ở Hương Cảng,
mai táng ở Mạc Tư Khoa?” (trang 202- 203), viết: “Ngày 8 tháng mười hai năm 1930, ba đại biểu của Đảng Cộng sản Đông Dương đến Mạc Tư Khoa. Những người này phân biệt rõ rệt với các thành viên
của Cục Hải ngoại, là Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai và
Hoàng Văn Nọn. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương Hà Huy Tập gửi thư cho Quốc tế cộng sản , nói Nguyễn Thị Minh Khai là vợ Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn
Thị Minh Khai sau khi đến Mạc Tư
Khoa, điền vào tờ khai cá nhân, ở mục hôn nhân là đã có chồng tên là P.C.Lin, chính là một trong những bí danh của Hồ Chí Minh. Về điểm này có thể nói, thời gian quan hệ vợ
chồng đằm thắm của hai người chỉ như hạt sương mai trên ngọn cỏ. Tuy nhiên Hồ Chí Minh chưa bao giờ được những người cộng sản chính
thức công nhận đã từng có vợ. Nguyễn Thị Minh Khai ở Mạc
Tư Khoa thường dùng bí danh Phan Lan.
3/
Tác phẩm “Chị Minh Khai” của nhà văn Nguyệt Tú, ngày kỷ niệm Quốc tế phụ nữ năm
2005, nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh ấn hành có liên quan đến chuyện tình ái và
hôn nhân, viết như sau:
- Vào một tháng của năm 1930, là thời kỳ Nguyễn Ái Quốc tham gia giảng dạy tại khóa Huấn luyện chính
trị. Hôm ấy là một ngày mưa bão, khắp các đường phố, cây cổ thụ bị bão đánh bật
tung gốc. Nguyễn
Thị Minh Khai trong nhóm học viên
nhòm qua ra sổ, nói : “Hôm nay có khả năng đồng chí Lý Thụy không đến được”.
Nhưng chỉ một lúc sau đã thấy đồng chí bước vào, tay cầm ô, áo quần ướt sũng
nước. Đồng chí ấy đã lên lớp đứng giờ. Minh Khai nhìn thân thể gầy yếu của Lý
Thụy, trong lòng vô cùng lo lắng.
- Ngày 29 tháng 4 năm 1932, Nguyễn Thị Minh Khai bị bắt, ba năm liền giam trong ngục, không
nhận được bất cứ tin tức nào. Minh Khai nhớ lại những ngày sau khi bị bắt ở Hương
Cảng, từ nhà giam, chị
định gửi cho các đồng chí mảnh
giấy nhắn tin, nhưng rồi lại nghĩ, liệu có được chuyển đến tay người nhận hay
không? Chắc là không thể được nên đã thu lại mảnh giấy mà chỉ gửi lời nhắn.
Cách đấy không lâu, ngày 6 tháng sáu năm
1932, đồng chí Nguyễn
Ái Quốc bị mật thám Anh bắt tại
Cửu Long. Cô nghĩ đến người lãnh đạo chủ chốt của cách mạng Việt Nam phải đối diện với hiểm nguy, lòng đau như cắt.
- Nguyễn Thị Minh Khai và
các đồng chí trong đoàn đại biểu tham gia Hội nghị VII Quốc tế cộng sản , từ đoàn
trưởng Lê Hồng Phong đến
Hoàng Văn Nọn, đều không ai có đủ quần áo ấm. Minh Khai
tranh thủ thời gian, cố gắng đan cho Hoàng Văn Nọn chiếc áo len cộc tay và Lê Hồng Phong chiếc khăn quàng cổ. Hoàng Văn Nọn tham gia rất nhiệt tình vào lễ thành hôn giản dị
nhưng vô cùng vui vẻ, thắm tình đồng chí của Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai. Sau này, trong hồi ký của mình, Hoàng Văn Nọn kể về hôn lễ của Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai : “ Lúc trở về nhà, nhìn thấy mâm cơm chiều
có nhiều món ăn hơn so với ngày thường, tôi hỏi : “ Hôm nay Minh Khai làm cô
dâu nên chiêu đãi anh em phải không?”.Minh Khai đỏ mặt không nói gì, chỉ lắc
đầu cười. Khi mọi người đã ngồi vào bàn, Hà Huy Tập đứng lên trịnh trọng tuyên
bố: " Hôm nay, Đảng vì anh chị tố chức hôn lễ,
chúng tôi chúc cho cô dâu chú rể sống đến đầu bạc răng long”.
Sự
thật về quan hệ hôn nhân
giữa
Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thị Minh Khai
1/ William J.
Duker viết : “ Năm 1931, Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thị Minh Khai bắt đầu yêu nhau, sau đó đề nghị Cục Viễn
Đông cho phép kết hôn.
2/ Sophie Quinn - Judge viết : “Mùa đông năm 1930, Nguyễn Ái Quốc báo cáo Cục Viễn Đông kế hoạch kết hôn. Cục
Viễn Đông có thư trả lời nhưng vì thư hồi đáp không ghi danh tính người nhận chỉ nên chỉ có thể
suy đoán là chuyện hôn sự của Hồ Chí Minh. Trong vòng hai tháng, Hồ Chí Minh bàn với vị hôn thê, sau năm mới sẽ đón khách từ Sài Gòn
và Đông Kinh đến thăm.
3/ Nhà văn Nguyệt Tú, trong “Chị Minh Khai” viết: “Hoàng Văn Nọn kể lại: “Tham dự lễ cưới đơn giản nhưng
vô cùng vui vẻ, thắm tình đồng chí của Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai, anh Hà Huy Tập trịnh trọng tuyên bố: “Hôm
nay, Đảng vì anh chị tố chức hôn lễ, chúng tôi chúc cho cô dâu chú rể sống đến
đầu bạc răng long”.
Tổng hợp các ghi chép trên, có thể thấy, báo cáo của Nguyễn Ái Quốc về việc kết hôn với Nguyễn Thị Minh Khai vào mùa đông năm 1930 với Cục Viễn Đông và
hôn lễ được cử hành tại Hương Cảng vào mùa xuân năm 1931 là có thực. Nguyệt Tú
dẫn lại hồi ức của Hoàng
Văn Nọn đã bất ngờ làm rõ việc Đảng Cộng sản Việt Nam cố tình ẩn giấu sự thực hôn nhân giữa Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thị Minh Khai. Bản ý của Hoàng Văn Nọn cho rằng, năm 1931, hôn lễ của Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn
Thị Minh Khai là sự thực, còn
việc Lê Hồng Phong kết
hôn với Nguyễn
Thị Minh Khai tại Mạc Tư Khoa chỉ
là lễ cưới giả. Những người chủ trương ẩn giấu sự kiện hôn nhân Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thị Minh Khai không ngờ đến mấy dòng ghi chú phần cuối: “Vương
huynh” chỉ Lê
Hồng Phong, “Duy tỉ” chỉ Nguyễn Thị Minh Khai đã vô tình làm lộ tẩy chân tướng. Khảo cứu kỹ lưỡng
nhiều lần các từ “Vương huynh” và “Duy tỉ” có thể thấy, “Vương huynh” chỉ “lão
Vương” hoặc “đồng chí Vương”, “Duy Tỉ” là “Chị Duy” hoặc “A Duy”, bí danh của Nguyễn Thị Minh Khai. Danh xưng “Vương huynh “ và “Duy Tỉ” được
dùng vào những năm 1924 đến 1931 lúc Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn
Thị Minh Khai công tác tại Quảng
Châu, Hương Cảng. Trong khi ấy, Lê Hồng Phong dùng biệt danh
Litvinov, Tuệ An, Gia Chính, Hạ Dương v.v… nhưng chưa bao giờ dùng “Vương
huynh” làm bí danh ( gần đây, khi bí mật trên bại lộ, những người viết tiểu sử
Lê Hồng Phong đã
thêm cho ông bí danh “Vương…” để phản bác những ý kiến đối lập, nhằm hợp lý hóa
thân phận Hồ Chí
Minh và Lê Hồng Phong. Xin tham khảo mục “Lê Hồng Phong” trên từ điển mở Wikipedia). Điều này làm cho người ta không khỏi nghi ngờ. Hà
Huy Tập vào năm 1935, không có khả năng
xuất hiện tại Mạc Tư Khoa trong hôn lễ Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai.
Tháng 6 năm 1934, Hà Huy Tập giữ chức
Tổng Bí thư, sau khi chủ trì Hội nghị Áo Môn, đến
năm 1938 bị bắt, năm 1942 bị xử tử và chưa bao giờ đến Mạc Tư Khoa, làm sao có
thể chủ trì hôn lễ của Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai? Điều
này chứng tỏ, Cộng đảng cao cấp Việt Nam cố tình che giấu sự thật hôn nhân của Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thị Minh Khai.
Hôn
ước của Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai
1/ William J. Duiker viết : “Ngày 25 tháng 5 năm 1935,
khai mạc Hội nghị lần thứ VII Quốc tế cộng sản tại Mạc Tư
Khoa, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai và Hoàng Văn Nọn là đại biểu chính thức của Đảng Cộng sản Đông Dương . Hội nghị kết thúc, Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai ở lại Mạc Tư Khoa, không lâu sau, hai người đến Phòng
đăng ký giá thú làm thủ tục kết hôn.
2/ Nhà văn Nguyệt Tú viết :
- Sau khi Hội
nghị VII Quốc tế cộng sản kết thúc, Lê Hồng Phong từ biệt Nguyễn Thị Minh Khai trở về Việt Nam công tác tại Xứ ủy Nam Kỳ, lấy bí danh là Lý, với tư
cách đại biểu Trung ương. Lê Hồng Phong và đồng chí Quang ở cùng một nơi. Hai người phụ trách
phong trào vận động công nhân, cùng ở trong một gian phòng bình dân khu chợ Sắt
Tây, ít lâu sau lại chuyển đến Ngã Sáu. Đồng chí Quang rất thông cảm với Minh
Khai, ngẫu nhiên được gặp chồng mà chỉ bàn bạc công việc, rất khó để cùng ăn
với nhau một bữa cơm. Phòng của Lê Hồng Phong chỉ đủ kê chiếc giường bạt, ban ngày gấp lại, tối đến
mới mở ra để ngủ.
- Tết Nguyên đán năm 1940, Minh Khai ở chợ Tân
Thành, gần đường McMahon ( tác giả dự đoán đây là tỉnh Tân Tri, thuộc
Nam Kỳ) trong nhà hộ sinh Hồng Phúc nổi tiếng. Tại đây Nguyễn Thị Minh Khai sinh hạ bé gái. Đứa bé ra đời được 5 ngày thì
Nguyễn Thị Minh
Khai đặt tên cho con là Nguyễn
Thị Hồng Minh, chính là tên của Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai ghép
lại. Ngày 30 tháng bảy năm 1940, Nguyễn Thị Minh Khai bị cảnh sát Pháp bắt giam tại nhà tù Phú Mỹ. Nguyễn Thị Minh Khai bao giờ cũng mặc bộ đồ trắng đến phòng hỏi
cung. Ngày 28 tháng
tám năm 1941, Nguyễn Thị Minh Khai bị dẫn ra pháp trường Phúc Môn Bình Lăng
Cương xử tử. Lê
Hồng Phong nhận được tin vợ thọ nạn, một năm sau, vào một ngày
tháng chín năm 1942, bị tra tấn dã man cũng chết ở nhà
tù Côn Đảo.
Theo ghi chép ở trên, quan hệ hôn nhân của Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai là chính xác. Năm 1935, sau Hội nghị VII Quốc tế cộng sản , hai
người đã đăng ký kết hôn, tết năm 1940, Minh Khai sinh con gái Hồng Minh, năm
1941 bị thực dân Pháp xử bắn. Lê Hồng Phong chết ở nhà tù Côn Đảo năm 1942.
Lê Hồng Phong và
Nguyễn Thị Minh Khai
Bí
danh P.C.Lin của Hồ Chí Minh không
phải là Nguyễn Ái Quốc
Năm 1934, bí danh P.C.Lin (hoặc P.C.Lâm) của Hồ Chí Minh chắc
chắn không phải là Nguyễn
Ái Quốc. Tại chương 2 “Màn kịch
tráo rồng đổi phượng”, ở mục 3 “Ve sầu thoát xác,
thật giả nhân sinh”, tôi đã dẫn những chứng cứ về
việc Nguyễn Ái
Quốc bị lao phổi đã chết vào mùa
thu năm 1932, còn Hồ
Chí Minh, từ Hạ Môn qua Thượng
Hải đi Mạc Tư Khoa là một người khác. Nói rõ hơn, khoảng thời gian từ mùa xuân
đến mùa hè năm 1933, người đến Mạc Tư Khoa mang bí danh Linov hoặc P.C.Lin
chính là Hồ Tập Chương, không phải Nguyễn Ái Quốc. Quốc tế
cộng sản đã cử người thay thế Nguyễn Ái Quốc dùng bí danh thay cho thân phận ông ta. Trong khi ấy, Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam cố tình đề cao mối tình Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai, giấu kín và ra sức phủ nhận quan hệ hôn nhân
của Nguyễn Ái
Quốc và Nguyễn Thị Minh Khai, dẫn đến hệ quả là, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai và bí danh P.C.Lin của Hồ Chí Minh , ba người nhưng lại có bốn thân phận trong
quan hệ hôn nhân, làm cho tình hình trở nên vô cùng phức tạp. Điều này khiến
cho các tác giả viết truyện ký về Hồ Chí Minh,
mỗi người đều tự tìm ra những nhầm lẫn trong sử liệu để giải thích về các mối
quan hệ hôn nhân đầy nghi vấn của họ.
1/ Năm 1934,
sau khi đến Mạc Tư Khoa, Nguyễn Thị Minh Khai phải
điền vào tờ khai nhân thân là đã có chồng tên P.C.Lin. Nếu Nguyễn Thị Minh Khai
biết bí danh của Nguyễn Ái Quốc là
P.C.Lin thì làm sao lại có thể công khai kết hôn với Lê Hồng Phong để
làm mất mặt Nguyễn Ái Quốc? Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh cùng mang bí danh P.C.Lin, vậy vì sao, năm
1935, khi cùng đến Mạc Tư Khoa dự Hội nghị VII Quốc tế cộng sản , Nguyễn Thị Minh
Khai lại coi Nguyễn Ái Quốc gần
như người xa lạ? Việc này
nhất định không hợp tình hợp lý. Chỉ có một cách giải thích là Quốc tế cộng sản đã chơi trò bỡn cợt “dời hoa tiếp cây” (di
hoa tiếp mộc), giấu nhẹm mối tình cao đẹp, trong sáng của Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thị Minh Khai mà đề cao cuộc hôn nhân giữa Lê Hồng Phong với Nguyễn Thị Minh Khai.
2/ Nguyễn Ái Quốc với chức
danh Bí thư Cục Viễn Đông, tham dự Hội nghị 7 Quốc Tế cộng sản với tư cách quan sát viên, không được quyền phát
biểu, chỉ lẳng lặng ngồi một bên nhìn thế sự. Rõ ràng là, trong thời gian Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thị Minh Khai có quan hệ thân mật, người ta đã dự liệu sẵn
một kế hoạch nào đó. Nguyễn Ái Quốc cùng một lúc bị tước quyền lãnh đạo Đảng và
mất vợ. Chuyện đúng sai khoan hãy bàn, nhưng khi nghe một nhà phân tích nhận
định ông “ bị hai lần tủi nhục” thì bản
thân người đọc cũng thấy bất bình.
Lời
bàn:
Nguyễn Ái Quốc , bí danh P.C.Lin, đến Hội nghị VII Quốc tế cộng sản với tư
cách quan sát viên, không được phát biểu, từ đầu đến cuối chỉ lẳng lặng ngồi
nghe các đồng chí của mình đăng đàn, trái ngược hẳn với Hội nghị lần thứ V. Khi ấy, Nguyễn Ái Quốc lấy danh nghĩa Quốc tế cộng sản, vận động
các nguyên thủ quốc gia, một mình thượng đài, ra sức tranh thủ diễn đàn phát
biểu chính kiến, thật là có sự khác nhau giữa hai người. Như trên đã nói, hiện
tượng rất không bình thường trên chỉ có thể giải thích hợp lý nhất là, người tham dự Hội nghị VII QTCS năm 1935 không phải Nguyễn Ái Quốc mà là Hồ Tập Chương mang bí danh P.C.Lin.
3/ Nguyễn Ái Quốc lấy bí danh
P.C.Lin trong thời gian làm việc tại Viện nghiên cứu “Các vấn đề dân tộc và
thuộc địa”. Thời gian ấy, Nguyễn Thị Minh Khai và
năm học viên đang học trong trường Đại học Phương Đông. Trong những ngày diễn
ra Hội nghị VII Quốc tế cộng sản , Nguyễn Ái Quốc đã tận tình giúp đỡ sửa chữa, biên tập văn
bản tham luận Hội nghị (bằng tiếng Nga), góp phần làm cho Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc khiến Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai thật sự cảm động.
Sau khi tổ chức hôn lễ, công việc của Lê Hồng Phong vô cùng bận rộn, một
trong số đó là lập kế hoạch trù bị cho Đại hội Thanh niên cộng sản quốc tế làn
thứ VI, đồng thời đề cử Nguyễn Thị Minh Khai tham gia với tư cách đại biểu của phụ nữ của Đảng Cộng sản Đông Dương. Nguyễn Ái Quốc được mời làm đại biểu dự thính.
Ngày bế mạc, Đại hội tuyên bố, Đảng Cộng sản Đông Dương chính thức trở thành một chi bộ của Quốc tế cộng sản. Lê Hồng Phong được bầu làm Ủy viên Ban chấp hành Quốc tế cộng sản . Trong buổi liên hoan giữa Đoàn đại biểu
Đảng cộng sản Pháp và Đoàn đại biêu Đảng Cộng sản Đông Dương , Nguyễn Thị Minh Khai và Lê Hồng Phong cùng song ca một bài
do Lê Hồng Phong
viết nhạc, Nguyễn
Thị Minh Khai đặt lời. ( Nguyệt
Tú - “Chị Minh Khai”, trang 76, 82,83, 89 và 90).
Lời
bàn:
Cuốn sách “Chị Minh Khai” của Nguyệt Tú luôn luôn ẩn
giấu mối quan hệ hôn nhân của Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thị Minh Khai, đồng thời tô vẽ mối tình giữa Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai. Tuy nhiên sự thực lịch sử không giống như
lời kể trên. Chuyện rắc rối ở đây là, từ Nguyễn Ái Quốc, Lê Hồng
Phong
(P.C.Lin) đến Nguyễn
Thị Minh Khai, ba người lại có
đến bốn thân phận công khai hoạt động. Nguyễn Thị Minh Khai và Lê Hồng Phong biểu hiện mối tình nồng thắm, với Nguyễn Ái Quốc (P.C.Lin), hai người kính trọng như khách,
xem ra rất hợp lý. Rốt cuộc, P.C.Lin này chính là Hồ Tập Chương cùng Nguyễn Thị Minh Khai đến Mạc Tư Khoa xem như mới quen biết nhau
nên tỏ thái độ kính trọng là hợp lẽ. Với Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn
Thị Minh Khai ngoài tình đồng chí
còn là tình nghĩa vợ chồng cao đẹp, một người cộng sản như Nguyễn Thị Minh Khai không thể cầm tay Lê Hồng Phong cùng vui vẻ song ca ngay trước mặt ông chồng đáng
kính, bởi hành vi ấy chính là làm nhục Nguyễn Ái Quốc…
Hồ Chí Minh và tri kỷ má hồng – Lâm Y Lan tiểu thư
Hồ
sơ về mối tình Hồ Chí Minh và Lâm Y Lan
Chuyện tình của Hồ Chí Minh và Lâm Y Lan chủ yếu căn cứ vào ghi chép của Lương Ích Tân qua bài viết
“Mối tình nồng thắm giữa Hồ Chí Minh và Lâm Y Lan”. Lương Văn Nguyên viết “Thế
giới lịch sử Cộng đảng Trung Quốc” năm 2004, đăng trên
nguyệt san “Nhân dân văn trích”, kỳ 12, dài khoảng ba ngàn ba trăm chữ, là bài
viết muộn nhất cung cấp cho bạn đọc tư liệu về chuyện tình ái của Hồ Chí Minh. Đây là tác phẩm thuộc thể tài tiểu thuyết,
từng đoạn, từng đoạn kể về cuộc tình của Hồ Chí Minh
với Lâm Y Lan. Nội dung tác phẩm được thể hiện qua nhiều chi
tiết khá lý thú, làm xúc động lòng người. Chỉ
tiếc, các sử liệu được vận dụng, chỗ thì lắp ghép một cách khiên cưỡng, chỗ lại
tập hợp trình bày nhảy cóc, nhất là đoạn nói về mối tình với Nguyễn Thanh Linh
trong những năm 1930. Việc làm này dường như tác giả có ý đồ tạo ra sự lẫn lộn Hồ Chí Minh với Nguyễn Ái Quốc , đồng nhất hai người làm một, tô vẽ ông thành một nhân vật phi
thường, mặc dù, trên thực tế, Nguyễn Thanh Linh chỉ là nhân vật hư cấu. William
J. Duiker, trong “Truyện Hồ Chí Minh”, chương 5 “Quyết chiến tối tiền
tuyến”(….. ), trang 554- 555, có những chi tiết tương đồng với các tư liệu báo
chí đã công bố. Từ đó có thể khẳng định, mối tình của Hồ Chí Minh và Lâm Y Lan là có thực.
Mối
tình của Hồ Chí Minh và Lâm Y Lan
Từ những năm ba mươi của thế kỷ trước, để tạo điều
kiện cho Hồ Chí
Minh công tác tại Quảng Đông,
Hương Cảng, Trung Cộng đã bố trí một thiếu nữ là Lâm Y Lan đóng giả làm vợ để
giúp đỡ việc sinh hoạt hàng ngày cho ông ta. Không lâu sau, hai người có tình ý
với nhau, nhưng đó là thời kỳ năm 1938 đầy sóng gió, nên cuối cùng mói quan hệ
luyến ái này không đi đến hôn nhân. Lâm Y Lan hoài niệm về mối tình xưa, nhớ
thương Hồ Chí
Minh, lâu ngày không biết còn
sống hay đã chết, sức khỏe suy giảm rồi qua đời vào năm 1968. Hồ Chí Minh biết tin, vô cùng đau khổ, một năm sau cũng
tạ thể. Lúc hấp hối ông có nhắc đến tên Lâm Y Lan.
Lời
đầu
Mùa đông, Mạc Tư Khoa tuyết rơi không ngừng. Hồ Chí Minh ở một ga xe bên sườn núi ngoại thành, dầm
mình trong cái lạnh khốc liệt của tiết trời băng giá, nước mặt lã chã rơi thấm
ướt cả lá thư. Bức thư báo tin dữ, người bạn gái thân thiết Nguyễn Thanh Linh
vừa bị giặc sát hại. Ông nghĩ đấy không phải là sự thật, mắt trừng trừng nhìn
vào dòng chữ, đọc đi đọc lại nhiều lần từng chữ một. Không sai, thư viết rất rõ
ràng, Nguyễn Thanh Linh đã bị ngộ hại tại Việt Nam.
Bạn
gái Nguyễn Thanh Linh bị sát hại
Hồ Chí Minh và Nguyễn Thanh Linh bắt đầu quen nhau vào mùa xuân năm 1930. Năm
ấy Hồ Chí Minh đang bôn ba hải ngoại tìm chân lý cách mạng,
trên đường về Việt
Nam ngẫu nhiên gặp Nguyễn Thanh
Linh . Nguyễn Thanh Linh chẳng để ý đến việc gia đình phản đối, kiên quyết hiến
thân cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, truyền bá ngọn lửa cách mạng,
trở thành người bạn thân thiết và trợ thủ đắc lực của Hồ Chí Minh. Tại Việt Nam,
Nguyễn Thanh Linh vận động giới phụ nữ tham gia đấu tranh chống thực dân , đế
quốc áp bức bóc lột, trở thành một cán bộ đảng rất có uy tín. Thời kỳ Hồ Chí Minh sang Liên Xô học tập kinh nghiệm cách mạng,
do bị một kẻ phản bội khai báo, Nguyễn Thanh Linh chẳng may bị địch bắt. Đối mặt với những dụ
dỗ, truy bức, cô vẫn kiên trinh bất khuất, đến chết vẫn không chịu cúi đầu.
Cuối năm ấy, trong cuộc họp Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội của lưu học sinh Việt Nam,
Hồ Chí Minh tuyên bố trước mọi người: "Đồng chí Thanh Linh đã hy sinh anh dũng nhưng đồng chí
vẫn sống mãi trong lòng chúng ta. Dòng máu đỏ của đồng chí không chảy phí hoài
mà nó càng tô thắm ngọn cờ giải phóng dân tộc. Tôi tuyên bố với thể giới, một
khi nước Việt Nam chưa được giải phóng thì đời này, kiếp này sẽ
không xây dựng gia đình”. Hồ Chí Minh không thể ngờ,
câu nói trên lại ảnh hưởng đến chuyện hôn nhân sau này. Nó giống như trái núi
lớn đè nặng lên tâm lý, không thể chống đỡ làm ông đau khổ cho đến lúc qua đời.
Trốn
tránh truy bắt, ẩn mình ở Quảng Châu
Năm 1930, Tưởng Giới Thạch điều động quân đội Quốc dân đảng bao vây tiễu trừ Hồng quân khu Giang Tây Tô, đồng thời ra lệnh cho các địa phương khẩn trương
truy bắt các phần tử cộng sản. Dương Thành (Quảng Châu) cũng không ngoại lệ. Hồ Chí Minh lúc này đang ở Quảng Châu. Nơi đây, trước đó
do nhu cầu công tác, ông đã mấy lần về Việt Nam,
tuy nhiên, lần này thì khác, Hồ Chí Minh bị đặc vụ truy
đuổi ráo riết, không chốn nương thân, chỉ còn cách liên lạc với Tỉnh ủy Quảng
Đông nhờ giúp đỡ. Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông Đào Chú đã bố trí một nữ đảng viên
là Lâm Y Lan, đóng giả làm vợ Hồ Chí Minh để bảo vệ an
toàn cho ông ta. Khi ấy Hồ Chí Minh trở về nhà trọ
thu xếp hành lý tìm đến nơi ở mới. Vừa vào đến cửa ông sững lại bởi cô gái đứng
trước mình có khuôn mặt hao hao giống Nguyễn Thanh Linh, người yêu của mình đã
bị địch xử tử năm nào. Cô gái không biết làm cách nào giải thích cho đối phương
mà chỉ hỏi: “Ông là HCM tiên sinh phải không? Tôi họ Lâm, thường gọi là Lâm Y
Lan”. HCM biết mình nhận lầm người, vội nói : " Xin lỗi cô Lâm, tôi lầm”.
Lâm
Y Lan được giao nhiệm vụ làm “vợ” Hồ Chí Minh
Sau đó, Hồ Chí Minh
từ từ kể lại mối tình mười năm với Nguyễn Thanh Linh gợi đến niềm tâm sự, nước
mắt bỗng nhiên trào ra. Lâm Y Lan nghe tâm sự, bất giác cũng cảm như mình lâm
vào cảnh ngộ ấy, trong lòng vô cùng cảm động. Tiếp đó, Tỉnh ủy Quảng Đông thông báo với Hồ Chí Minh hiện tại Hương Cảng rất phức tạp, đặc vụ Quốc dân đảng có mặt khắp nơi, không có việc gì chúng không
dám làm, nên dặn đi dặn lại Lâm Y Lan phải bảo vệ Hồ Chí Minh an toàn. Lúc ấy, Đào Chú nửa đùa nửa thật bảo
: “ Các bạn nên nhớ, đến một ngày hai “vợ chồng” trăm tuổi, Y Lan tuyệt đối
không được bỏ rơi “phu quân” mà không quản lý đấy nhé”, làm Lâm Y Lan, vốn là
một tiểu thư chưa chồng, hai má đỏ lựng. Lấy danh nghĩa người “vợ”, Lâm Y Lan
chăm sóc Hồ Chí
Minh trong sinh hoạt thường ngày
vô cùng tận tình, chu đáo làm cho Hồ Chí Minh
đặc biệt cảm kích, đã có lúc muốn thổ lộ tình cảm, nhưng vì thời cơ chưa chín
muồi nên trong lòng vẫn trù trừ. Lâm Y Lan thấy Hồ Chí Minh nói với mình những lời chân thành, thâm tâm đã có
phần ưng ý, nhưng vì là phận nữ nhi, không tiện nói ra. Lúc chia tay, Hồ Chí Minh ôm lấy Lâm Y Lan, dùng khăn tay lau nước mắt
cho cô : “ Hãy cứng rắn lên, đừng để kẻ thù cười chúng ta mềm yếu”, nói rồi lấy
quyển nhật ký đưa cho Lâm Y Lan: “Tâm sự của tôi đều ở trong này, sẽ cùng đi
với em”.
Trong
hoạn nạn thấy sự chân thành
Ba ngày sau khi Hồ Chí Minh
được cứu thoát, Lâm Y Lan nhìn đăm đăm vào khuôn mặt hốc hác của ông, hỏi: “Chí
Minh, sao không đợi muội đến đón?”. HCM nói: “ Tôi nghĩ, càng về nhanh càng
chóng được gặp muội”. Nói rồi Hồ Chí Minh đưa cho Lâm Y Lan một nhành hoa lan: “Xin
tặng muội, chúc mọi sự vui vẻ”. Thấy Lâm Y Lan có vẻ bối rối, Hồ Chí Minh lại nói: “ Muội đã đọc nhật ký chưa? Lòng tôi
luôn tin tưởng hoa lan không bao giờ bị héo”. Lâm Y Lan nhận hoa, không nén
được tình cảm, ngã vào lòng Hồ Chí Minh.
Những năm năm mươi của thế kỷ XX, Trung Quốc đại lục đã được giải phóng, lúc này Lâm Y Lan
là cán bộ cao cấp của Tỉnh ủy Quảng Đông . Hồ Chí Minh trở về nước tiếp tục sự nghiệp cách mạng chưa
hoàn thành. Bấy giờ, Đào Chú là Bí thư Trung ương Cục Hoa Nam kiêm Bí thư thứ
nhất Tỉnh ủy Quảng
Đông, thấy Lâm Y Lan vẫn sống cô
đơn đã đứng ra làm mối vài đám nhưng lần nào cũng bị cô khéo léo từ chối. Lúc
ấy Đào Chú không hiểu tâm trạng Lâm Y Lan, sau nhiều lần cân nhắc, cuối cùng
ông hỏi thẳng cô ta: “Giấy không bọc được lửa, hơn nữa, việc này cũng chẳng có
gì là bí mật. Nói thật đi, người ấy là ai?” Lâm Y Lan thong thả bảo: "Hồ Chí Minh”. Đào Chú nghe xong thất kinh, mãi một lúc
sau mới hỏi lại: “ Chủ tịch Đảng Cộng sản Việt Nam Hồ
Chí Minh? Ông ta yêu cô phải không?”. Lâm
Y Lan gật đầu :“ Hồ
Chí Minh nói là tôi hãy đợi ông
ấy”. Nghe xong, Đào Chú tự trách mình :” Ôi chao! Chỉ tại ngày ấy tôi hồ đồ
giao nhiệm vụ cho cô, nào ngờ dẫn đến chuyện hai người ở hai phương trời thương
nhớ lẫn nhau…”
Không
di lưỡng địa tương tư
Lâm Y Lan vẻ mặt rạng rỡ hạnh phúc, cười khẽ: “Việc
này không thể trách đồng chí. Tôi và Hồ Chí Minh
hai người đã dốc lòng cùng nhau, hồng nhạn đưa tin, thế nào cũng có ngày tái
ngộ. Huống hồ, tình cảm của hai người đã là vĩnh cửu, há đâu phải một sớm một
chiều (Lưỡng tình nhược thị trường cửu
thời, hựu khởi tại triêu triêu mộ mộ). Tôi tin tưởng tình yêu qua thời gian
đã được thử thách”. Đào Chú chỉ biết xoa tay. Ông đã rõ chuyện, chỉ đợi xem
tình huống phía Việt
Nam. Mối nhân duyên này, có thể
nói, sự thành công là không dám chắc. Ông hiểu rõ mình gánh trọng trách, hơi
thiếu cẩn trọng, rất có thể sẽ gây nên bi kịch di hận ngàn thu.
Dịp may đã đến. Đó là chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào ít năm sau đó. Đào Chú bèn thỉnh cầu Mao Trạch
Đông sắp xếp cho ông và nữ cố nhân Quảng Đông gặp mặt. Mao Chủ tịch lập tức gọi
điện cho Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông Đào Chú, Lâm Y
Lan và những ủy viên Thường vụ khác về Bắc Kinh. Lâm Y Lan nhận được tin báo
vui mừng đến phát cuồng. Hồ Chí Minh kết thúc
chuyến thăm Trung
Quốc sắp lên máy bay về nước,
bỗng nhiên ông nhìn thấy Lâm Y Lan vội sải bước đến gần cô, hai tay nắm chặt
không nói nên lời. Hai người nhìn nhau rất lâu, lòng rưng rưng xúc động trào
nước mắt. Trước lúc phi cơ khởi trình, Lâm Y Lan lấy cuốn nhật ký ngày nào đưa
trả lại Hồ Chí
Minh , nhẹ nhàng bảo: “Không có
anh bên cạnh, lâu rồi tôi không ghi nhật ký, xin gửi lại anh”.
Ủy
thác Đào Chú làm mối
Vào một ngày đẹp trời năm 1958, trên bờ sông ở Hà Nội,
hai ông già lặng lẽ buông cần câu. Họ
chính là Hồ Chí
Minh và Đào Chú (xem ảnh phía
dưới). Lúc ấy Hồ
Chí Minh thần sắc có vẻ khác
thường, trịnh trọng nói với Đào Chú: “ Trung Quốc
có câu ‘ Lúc trẻ là vợ chồng, về già là bạn’. Tôi và Lâm Y Lan biết nhau đã hơn
hai mươi năm, vì sự nghiệp cách mạng đành tạm gác tình riêng. Đến nay chúng tôi
cũng đã có tuổi, muốn đón Lâm Y Lan sang Hà Nội, bí mật tổ chức hôn lễ để thỏa
ý nguyện từ những năm trước”. Sau khi về nước, Đào Chú bay đến Bắc Kinh báo cáo
sự việc với Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Chủ tịch Mao Trạch Đông chuyển đạt ý nguyện của Hồ Chí Minh đến Tổng lý Chu Ân Lai. Tại Phủ Thủ tướng Quốc vụ
viện, các vị lãnh đạo đều vô cùng kinh ngạc.
Chuyện
hôn nhân của Hồ Chí Minh không nhỏ
Mao chủ tịch trầm ngâm một lúc rồi nói: “Nói cho cùng, chính là chúng ta đề xướng ra đoạn tình
duyên này, hôn nhân tự chủ, nên đáp ứng nguyện vọng của Hồ Chí Minh, nhưng đây
không phải là việc nhỏ, chớ xem thường”.
Hội
nghị Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam
Hồ Chí Minh và Lê Duẩn ngồi đối diện nhau, hai bên là các
Ủy viên Bộ Chính
trị. Sự việc được đưa ra nhưng mọi người đều im lặng không nói. Cuối
cùng Hồ Chí Minh đập bàn, đứng lên: “Tôi chịu đựng đủ rồi.
Thật tình tôi không nghĩ là sẽ được gặp lại người ta. Tôi có quyền quyết định
việc riêng của mình, vì vậy, đề nghị các đồng chí không nên thuyết phục nữa”.
Lê Duẩn tuy bất bình nhưng chưa dám gây căng thẳng, vẫn bình tĩnh nói: “Thưa
Bác! Bác không nên quá xúc động, phải tính kế lâu dài, nên cân nhắc kỹ rồi hãy
hành động. Chúng tôi can ngăn lúc này là vì lo cho Bác. Bác từng nói 'Việt Nam chưa giải phóng thì đời nay, kiếp này tôi
không xây dựng gia đình'. Câu nói ấy có ảnh hưởng
rất lớn. Một khi Bác làm trái lời thề thì ý nghĩa của sự nghiệp thần thánh Giải
phóng miền Nam cũng như uy tín 'cha già dân tộc' của Bác sẽ bị tổn thương, không những thế uy tín của
Đảng ta trước phe Xã
hội chủ nghĩa cũng như cộng đồng
quốc tế cũng bị giảm sút”. Thực ra tâm trạng Lê Duẩn vô cùng mâu thuẫn, ông ta
không muốn ép Hồ
Chí Minh, nhưng vì ở cương vị Bí
thư thứ nhất nên bắt buộc phải tỏ thái độ cứng rắn.
Thiểu
số phục tùng đa số
Hồ Chí Minh thấy Lê Duẩn nhất quyết can thiệp vào hạnh
phúc riêng tư của mình, không nói nữa mà bảo: “Theo nguyên tắc, thiểu số phục
tùng đa số, đề nghị các đồng chí giơ tay biểu quyết”. Nói rồi ông đưa mắt nhìn
sang hai bên. Ý kiến tán thành và phản đối ngang nhau, riêng Lê Duẩn vẫn ngồi
im. Mọi người đều chăm chú theo dõi thái độ của Bí thư thứ nhất. Lúc ấy Lê Duẩn mới từ từ nâng tay phải, nhưng đến
nửa chừng lại đột nhiên bỏ thõng xuống, thở dài nói: “Tôi không thể làm mất uy
tín của Bác”. Điều làm Lê Duẩn giật mình là, Hồ Chí Minh không nổi trận lôi đình , trái lại, ông chỉ cười nhạt
rồi thong thả rời cuộc họp bước ra ngoài.
Bi
kịch tình yêu kết thúc
Tại bệnh viện Quảng Châu, Lâm Y Lan trông ngóng Hồ Chí Minh nhưng chỉ nhận được bức thư vài dòng ngắn
ngủi: “Y Lan thân mến! Chúng ta vô duyên không thể tái hợp. Muội đã nghe nói
đến tình yêu theo kiểu Platonic chưa? Tuy không được ở bên nhau nhưng tâm hồn
hai ta mãi mãi dung hòa nhất thể”. Lâm Y Lan cầm lá thư ném xuống bệ cửa sổ,
nhìn theo lá thư vờn bay theo gió, hai dòng lệ lã chã tuôn rơi. Sau đó Lâm Y
Lan viết thư hồi đáp Hồ Chí Minh, trong thư, bà
sử dụng hai câu trong “Trường hận ca”
của Bạch Cư Dị “ Trên trời xin làm chim
chắp cánh, dưới đất nguyện làm cây liền cành. Trời cao đất dày rồi cũng tận, tình này vĩnh viễn mãi không nguôi” ( Tại thiên nguyện vi tỷ dực điểu,
tại địa nguyện vi liên lý chi; thiên trường địa cửu hữu tận thời, thử tình miên
miên vô tuyệt kỳ). Bà chuyển chữ “hận”
cải thành chữ “tình” để chứng tỏ tấm
lòng thủy chung như nhất của mình đối với Hồ Chí Minh.
Bức thư bất đắc dĩ của Hồ Chí Minh là một đòn
nặng nề đánh vào tinh thần Lâm Y Lan khiến bà bị suy sụp rồi mắc trọng bệnh,
năm 1968 thì qua đời. Hồ Chí Minh nghe tin người
yêu mất thì vô cùng ân hận và thương cảm. Sau đấy một năm, vào ngày 2 tháng 9
năm 1969, lúc hừng đông, Hồ Chí Minh bỗng nhiên thở
dài, lúc hấp hối ông đã gọi tên Lâm Y Lan.
Trở lên là câu chuyện tình của Hồ Chí Minh và Lâm Y Lan. Chuyện ly này là do Lương Ích
Tân viết trong tác phẩm “Mối tình nồng cháy của Hồ Chí Minh và Lâm Y Lan”.
Sự thật về mối tình của Lâm Y Lan
Trong “Truyện Hồ Chí Minh”, trang 554-555, William
J.Duiker viết “Tháng 8 năm 1965, Đào Chú thăm Hà Nội, Hồ Chí Minh có nhờ ông làm mối cho một phụ nữ trẻ,
người Quảng Đông trước đây từng quen biết nhau. Khi trở lại Trung Quốc, Đào Chú báo cáo với Chu Ân Lai lời thỉnh cầu
trên. Chu Ân Lai bèn cùng với lãnh đạo Bắc Việt thương thảo việc này nhưng cuối
cùng không có kết quả. William J. Duiker viết đoạn này, nếu đem đối chiếu với
các bài “Mối tình nồng cháy của Hồ Chí Minh
và Lâm Y Lan”, “Ủy thác Đào Chú Làm mối”, “Hội nghị Bộ Chính trị Đảng Lao động
Việt Nam” v.v…thì các chương mục gần như có nội dung thống nhất. Chi tiết Hồ Chí Minh yêu cầu Đào Chú tác thành với một người phụ
nữ Quảng Đông để làm bạn là xác thực với những sự việc báo chí dã đưa tin.
William J.Duiker viết tại chương này (Chú thích 54 trang 668) chỉ rõ nguồn gốc là "Câu đố về Chu Đào" của tác giả Quách Trinh, đăng tải trên tạp
chí “Văn học quân sự Tây Nam”, kỳ 72, Thành Đô,
1995). Trong phần chú giải phụ thêm, William J.
Duiker có một đoạn như sau: “Từ Cách mạng văn hóa cho đến lúc trước khi bị
thanh toán là lãnh đạo Tỉnh ủy Quảng Đông, bà và HCM trước đây từng rất thân
thiết nhau. Tôi căn cứ vào văn bản suy đoán, sự kiện này xảy ra vào mùa xuân
hoặc mùa hạ năm 1966”.
Trong bài viết “Mối tình nồng cháy giữa Hồ Chí Minh và Lâm Y Lan”, ở phần “Trốn tránh truy bắt,
ẩn mình ở Quảng Châu”, có đoạn: “ Năm 1930, Tưởng Giới Thạch điều động quân đội
Quốc dân đảng bao vây tiễu trừ Hồng quân khu Giang Tây Tô, đồng thời ra lệnh cho các địa phương khẩn trương
truy bắt các phần tử cộng sản. Dương Thành (Quảng Châu) cũng không ngoại lệ. Hồ Chí Minh lúc này đang ở Quảng Châu. Nơi đây, trước đó
do nhu cầu công tác, ông đã mấy lần về Việt Nam,
tuy nhiên, lần này thì khác, Hồ Chí Minh bị đặc vụ truy
đuổi ráo riết, không chốn nương thân, chỉ còn cách liên lạc với Tỉnh ủy Quảng
Đông nhờ giúp đỡ. Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông Đào Chú đã bố trí một nữ đảng viên
là Lâm Y Lan, đóng giả làm vợ Hồ Chí Minh để bảo vệ an
toàn cho ông ta”. Ở mục: “Lâm Y Lan được giao nhiệm vụ làm “vợ” Hồ Chí Minh” và
“ Trong hoạn nạn thấy sự chân thành” đều có viết: “ Không lâu sau, do một kẻ
phản bội khai báo, Hồ
Chí Minh bị bắt nhưng ba ngày sau
lại được cứu thoát”.
Những phần ghi chép trên nói rõ là, vào đầu năm 1930, Hồ Chí Minh đúng là bị bắt ở Quảng Châu. Đối chiếu với
“Hồi ức Trịnh Siêu Lân” về sự kiện Hồ Chí Minh
bị bắt ở Quảng
Châu vào năm 1931, đồng thời so
sánh với bài viết “Hồ Tập Chương, đến từ Miêu Lật Đài Loan bị bắt ở Quảng Châu,
giam tại nhà ngục Nam Thạch Đầu trên “Đài Loan nhật nhật tân báo” thì thấy rất
rõ ràng, nhân vật nam chính trong bài “ Mối tình nồng cháy
giữa Hồ Chí Minh và Lâm Y Lan” chính là Hồ Tập Chương đến từ
Miêu Lật Đài Loan (Xem lại Thiên II “Hồ Chí Minh bị
bắt tại Quảng Châu”, và Thiên IV “Những năm tháng
phiêu bạt” (Phiêu bạt lưu lãng đích tuế nguyệt) đăng tải trên “Đài Loan nhật
nhật tân báo”.
Theo nhận định của William J. Duiker, các bài viết
“Nhờ Đào Chú làm mối” và “Chuyện hôn sự của Hồ Chí Minh không nhỏ” của tác giả
Lương Văn là xác thực. Nhìn lại cuộc đời hoạt động chính trị thăng trầm của Đào
Chú cũng có thể gián tiếp khẳng định, Chu Đào và Lâm Y Lan là một người. Đào
Chú lãnh đạo Tỉnh ủy Quảng Đông từ mùa xuân năm
1951 đến năm 1966, từng là “phong cương đại lại” rồi nhảy nhanh lên Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Quốc vụ viện, Bộ trưởng Tuyên
truyền, Cố vấn Tiểu tổ Cách mạng Văn hóa, thứ bậc chỉ xếp sau Mao, Lâm, Chu, ngồi
ghế thứ tư trong Thường vụ Bộ Chính trị, có thể nói
vận số vô cùng hanh thông. Thế nhưng, tai vạ bỗng đâu ập đến, trong Đại Cách
mạng Văn hóa, Đào Chú bị “Lũ bốn tên” vu cáo thuộc phe “Bảo hoàng”. Chúng xúi giục Hồng vệ binh đấu tố, hạ nhục
ông cho đến lúc thân tàn ma dại rồi chết một cách tức tưởi vào ngày 30 tháng 11
năm 1969. Cùng thời kỳ sóng gió ấy, Chu Đào bị hạ phóng ra biên giới Tây Nam.
Theo nội dung các bài “ Hội nghị Bộ Chính trị Đảng Lao
động Việt Nam” và “Chuyện hôn nhân của Hồ Chí Minh không nhỏ”, có thể thấy một
sự thực là, Cộng đảng Việt Nam đã sử dụng câu
nói “ Một ngày đất nước chưa độc lập, tôi quyết không kết hôn” làm cái cớ gây
áp lực mạnh lên ý nguyện xây dựng gia đình của Hồ Chí Minh.
Chuyện tình giữa Hồ Chí Minh và Đỗ Thị Lạc
Căn cứ vào “Thê
thiếp và nhân tình của Hồ Chí Minh” của “Lĩnh Nam di dân”, thì Hồ Chí Minh có bốn người phụ nữ trong các thời kỳ khác
nhau. Người vợ đầu là Tăng Tuyết Minh, tiếp theo là Nguyễn Thị Minh Khai, Đỗ
Thị Lạc và cuối cùng là Nông Thị Xuân. Mối tình với Đỗ Thị Lạc tác giả viết: “ Sau khi ra tù, Hồ Chí Minh
được tướng Trương Phát Khuê và tướng Tiêu Văn tín
nhiệm, được bổ sung làm Ủy viên dự khuyết Việt Nam
Cách mạng Đồng minh hội, hoạt động rất có uy tín.
Không lâu sau, được sự đồng ý của các tướng lĩnh Quốc dân Đảng, Hồ Chí Minh mang theo mười tám người trở về Bắc Việt Nam sau khi kết thúc khóa huấn luyện cán bộ. Một trong
mười tám người theo Hồ Chí Minh trở về là Đỗ
Thị Lạc, người phụ nữ duy nhất trong Đoàn thường được mọi người goi là “chị
Thuận”. Nhân thân Đỗ
Thị Lạc không rõ, người ta chỉ
biết cô này từ năm 1942 tại Liễu Châu, Quảng Tây, với tư cách học viên Ban Huấn
luyện quân sự. Trở về Cao Bằng, Việt Bắc, Đỗ Thị Lạc
và Hồ Chí Minh sống chung với nhau một thời gian tại vùng
Khuê Nam (?!), phụ trách công tác dân vận và thiếu nhi. Sử gia Trần Trọng Kim,
trong hồi ký “Một cơn gió bụi”, viết: “Đỗ Thị Lạc
có với Hồ Chí
Minh một người con gái. Tuy
nhiên, sau một thời gian sống chung với nhau ở Khuê Nam, Hồ Chí Minh dấn thân vào cao trào cách mạng, không bao
giờ còn trở lại với Đỗ Thị Lạc nữa”.
Căn cứ vào các tư liệu đã tra cứu được, vào thời kỳ Hồ Chí Minh đem theo mười tám cán bộ về Việt Bắc thì
người phụ nữ có tên Đỗ Thị Lạc là có thật. Giáo
sư Tưởng Vĩnh Kính, trong cuốn “Hồ Chí Minh ở Trung Quốc”, trang 194 đến 206
viết: “Ngày 10 tháng 9 năm 1943, Hồ Chí Minh được phóng thích tại Liễu Châu, rất được Tư
lệnh Đệ tứ chiến khu Trương Phát Khuê tín nhiệm, giao nhiệm vụ cải tổ Việt Nam
Cách mạng Đồng minh hội. Hồ Chí Minh đề nghị với
Trương Phát Khuê ý định về Việt Nam hoạt động, đồng
thời chuyển giao cho ông bản đề cương kế hoạch “Nhập Việt công tác” được khởi
thảo với bốn mục tiêu lớn. Căn cứ vào kế hoạch đại cương, Hồ Chí Minh tự tuyển chọn mười tám thanh niên cốt cán trở
về Việt Nam làm công việc huấn luyện nhiệm vụ cách mạng.
Danh tính của mười tám người như sau : Dương Văn Lộc, Lê Nguyên, Vi Văn Tôn,
Hoàng Nhân, Hoàng Quảng Triều, Nông Kim Thành, Hoàng Kim Vận, Hoàng Thanh Thủy,
Phạm Văn Minh, Hà Hiến Minh, Hoàng Sỹ Vinh, Lê Văn Tiền, Nông Văn Mưu, Dương
Văn Lễ, Hoàng Gia Tiên, Đỗ Trọng Viện, Trương Hữu Chí ( đều thuộc Tổng đội công
tác chiến địa) và Đỗ Thị Lạc ( thuộc Đội công tác chính trị biên giới). Lại căn
cứ vào “Hồ Chí Minh tại Liễu Châu” do Quảng Tây nhân dân xuất bản xã phát hành
năm 2005, trang 103, có đoạn viết: “Từ 1943 đến 1944, dưới chân núi Cao Lượng,
Liễu Châu, nơi Ban huấn luyện cán bộ mở lớp học, HCM thường đến giảng bài.
Trong số học viên có một phụ nữ là Đỗ Thị Loan, quê tại thị trấn Bắc Môn, huyện
Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, bị bệnh, chữa không khỏi, chết tại Liễu Châu, mai táng
dưới chân núi Cao Lượng, bia mộ ghi ngày sinh, ngày mất và quê quán bằng Trung
văn”. Có thể phỏng đoán, Đỗ Thị Lạc, Đỗ Lạc, Đỗ Thị Loan, danh tính ba lần
chuyển dịch không giống nhau nhưng có lẽ vẫn cùng là một người.
Trần Trọng Kim viết: “Nghe tin Đỗ Thị Lạc đã có một
người con gái với Hồ
Chí Minh nên có thể xem chuyện
này là có thật”. Căn cứ vào “Hồ Chí Minh
và Trung Quốc” trang 164 của giáo sư Hoàng Tranh có đoạn ghi chép về “Hồ Chí
Minh và Đỗ Lệ Hoa”, tôi phỏng đoán, Đỗ Lệ Hoa chính là Đỗ Thị Lạc. Chuyện như
sau: “Tháng 8 năm 1962, Hồ Chí Minh đến Trung Quốc, ở lại một thời gian, đã từng đến thăm phong
cảnh nổi tiếng ‘Thạch Lâm” ở Vân Nam. Đoàn Văn công Vân Nam có nữ ca sĩ hát
giọng nữ cao Đỗ Lệ Hoa tháp tùng chủ tịch Hồ Chí Minh
tham quan. Bên cạnh Hồ Chí Minh, Đỗ tiểu thư
đã có những giây phút vô cùng hạnh phúc. Trước đó một năm, Hồ Chí Minh đã từng quen biết Đỗ Lệ Hoa . Đó là năm 1961,
Hồ Chí Minh cùng Đoàn đại biểu Đảng Lao động Việt Nam sang thăm Trung Quốc.
Một ngày, tại Hoài Nhân Đường Bắc
Kinh, Đoàn nghệ thuật chuẩn bị thăm Miến Điện, biểu diễn một buổi dành riêng
cho các vị khách Việt
Nam. Sau buổi biểu diễn, Hồ Chí Minh đặc biệt đề nghị Đỗ Lệ Hoa cùng ông và chủ
tịch Mao Trạch Đông chụp chung một kiểu ảnh. Hồ Chí Minh cười hiền từ nhìn Đỗ Lệ Hoa rất lâu như muốn lưu giữ mãi hình ảnh của cô.
Lần này, khi đến nhà khách, Đỗ Lệ Hoa
được thông báo, Hồ Chí Minh mời vợ chồng
cô đến Thạch Lâm tham quan thắng cảnh. Đỗ Lệ Hoa vô cùng phấn chấn, lòng thầm
nghĩ, đã một năm qua rồi, không biết Hồ Chí Minh
giờ đây thế nào, cô hận là không thể lập tức chạy ngay đến bên Hồ Chủ tịch. Khi
Đỗ Lệ Hoa vừa đến nhà khách Thạch Lâm, Hồ Chí Minh
đã chờ sẵn ở cửa trước, vừa nhìn thấy cô văn công, ông vội bước ra, thân mật
gọi: “Tiểu thư Lệ Hoa, hoan nghênh cô đến, có nhớ năm trước chúng ta gặp nhau ở
Bắc Kinh không?”. Đỗ Lệ Hoa phấn khởi
nói: “Nhớ, Nhớ ạ”, rồi trân trọng trao tấm ảnh kỷ niệm đã được phóng to cho Hồ Chí Minh”.
Từ việc ĐTL chết, độ tuổi của ĐLH, ĐLH đứng giữa MTĐ
và HCM chụp ảnh kỷ niệm, đến cuộc gặp gỡ và tình cảm đặc biệt giữa ĐLH và HCM ở
khu nghỉ mát Thạc Lâm, làm cho người ta khó nói ĐLH không phải là người tình
của HCM.
Mối tình của Hồ Chí Minh và Nông Thị Xuân
Trần Quốc Hoàn vì vì có công trong việc trấn áp các
phần tử phản cách mạng mà thành danh, năm 1953 được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Công
an. Năm 1955, một thiếu nữ là Nông Thị Xuân từ vùng biên giới tỉnh Cao Bằng
được đưa về Hà Nội. Cô này khá xinh đẹp được chủ tịch Hồ Chí Minh để ý nên Ban Bảo vệ sức khỏe Trung ương đã bố
trí làm y tá bên cạnh ông Hồ. Một năm sau, Nông Thị Xuân sinh với Hồ Chí Minh
một bé trai. Đứa bé được bí mật gửi nuôi vài nơi, nhưng cuối cùng, thư ký riêng
của Hồ Chí Minh là Vũ Kỳ đưa về nhà nhận làm con. Vào một
ngày năm 1957, người ta phát hiện Nông Thị Xuân
bị tai nạn ô tô chết bên đường chân Dốc
Chèm. Không lâu sau, hai người em họ của cô Xuân cũng bị đột tử. Khi mới xảy ra
sự kiện này rất ít người biết chuyện, nhưng nhiều năm sau, người chồng chưa
cưới của một trong hai thiếu nữ, đã viết thư gửi lên Quốc hội, tố cáo Trần Quốc
Hoàn cưỡng dâm Nông Thị Xuân rồi sát hại
cô bằng một vụ tai nạn được công an dàn dựng. Anh ta nói rõ, Trần Quốc Hoàn sợ
hai người em họ của Nông Thị Xuân tố cáo
tội ác nên hắn đã cho mật vụ thủ tiêu cả hai chị em. Tất nhiên, sự kiện
này bị ỉm đi và cũng không có bất cứ
phiên tòa nào đủ bản lĩnh đứng ra thụ lý vụ án trên. Trần Quốc Hoàn xem như vô can, tại Đại hội III, y còn
được bầu làm Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, những tin
tức về vụ giết người bịt miệng dã man này đã được các cán bộ cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam biết rõ, có điều tất cả đều ngậm miệng, bởi
họ không lạ gì Cảnh Con (tên tục của Trần Quốc Hoàn ) vốn xuất thân từ dân đao
búa, đã từng làm đủ nghề, từ cầm cờ đám ma, lưu manh trộm cắp đến lừa thầy phản
bạn. Hồ Chí Minh có biết hay không sự kiện động trời này, mọi
người đều không dám khẳng định, cho dù, ông mới là “chính danh thủ phạm” của vụ
án thảm khốc cướp đi mạng sống của ba thiếu nữ xinh đẹp, vô tội.
Mối tình của Hồ Chí Minh
và Nông Thị Xuân được William J. Duiker
ghi chép tại chương 9 “ Giữa hai lần chiến dịch”, trang 505-506 trong tác phẩm
“Truyện Hồ Chí Minh”. Phần chú thích từ trang 63 đến 660, nội dung dẫn từ “Đêm
giữa ban ngày” của nhà văn Vũ Thư Hiên (con trai cụ Vũ Đình Huỳnh, từng là thư
ký riêng cho Hồ
Chí Minh thời kỳ 1946-1955).
Nguyên văn bản tố cáo tội ác Trần Quốc Hoàn của vị hôn phu cô Nguyễn Thị
Vàng đăng tải trong “Việt Nam lục”, mùa
thu, tháng tám, năm 1997, trang 8-11.
Trong “Thê thiếp và nhân tình của Hồ Chí Minh” của “ Lĩnh Nam di dân” cũng ghi chép về mối
quan hệ luyến ái giữa Hồ Chí Minh và Nông Thị
Xuân: “Ngày 20 tháng bảy năm 1954, sau Hiệp
định Genève, Hồ
Chí Minh trở về Hà Nội đảm nhiệm
chức Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Năm
1955, Ban Bảo vệ sức khỏe Trung ương tuyển một thiếu nữ thuộc thành phần gia
đình cách mạng miền núi đưa về Hà Nội, phục vụ sinh hoạt cho Hồ Chí Minh. Cô gái là Nông Thị Xuân , dân tộc Nùng ( một
chi nhánh của người Tráng Quảng Tây Trung Quốc,
Việt Nam gọi là Nùng), nhà ở thôn Hà Ma, xã Hồng Việt,
huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Lúc ấy Hồ Chí Minh
đã 65, Nông Thị Xuân mới gần 22. Ít lâu
sau, hai cô khác, một tên Vàng, một tên Nguyệt là con người cậu Nông Thị Xuân
cũng được chọn đưa về Hà Nội. Ba cô cùng ở trên
gác hai ngôi nhà số 66 phố Hàng Bông Nhuộm. Vì để mối quan hệ giữa Hồ Chí Minh và Nông Thị Xuân không bị tiết lộ, mỗi lần cô
Xuân đến Phủ Chủ tịch đều được Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn cho xe đến
đón”.
Những câu chuyện “Hồ Chí Minh và Đỗ Thị Lạc”, “ Hồ Chí
Minh và Nông Thị Xuân”, cùng “Chuyện
tình ái và những người con sinh ra trong bóng tối”, (cho đến nay, dân gian vẫn
lưu truyền, Tổng
Bí thư Nông Đức Mạnh là con rơi
của Hồ Chí Minh) cũng như thân phận thật Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc , vẫn còn là những bí mật, chưa có câu trả lời thỏa đáng. Đỗ Thị Lạc, Nông Thị Xuân , thời gian ghi chép, địa điểm, nội
dung, nguồn gốc tin tức…sự thật chỉ có một mà sự tô vẽ, phóng đại thì rất nhiều
bởi người đời làm cho sự việc ngày càng trở nên phức tạp, khó xác định chân
tướng.
Tổng kết về hôn nhân và tình ái trong cuộc đời Hồ Chí Minh
Khảo cứu về hôn nhân, tình ái của Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh trong vô vàn sự kiện cũng như mối quan hệ phức tạp, phải nói rất khó
khăn và tốn nhiều công sức. Tuy nhiên , cần phải tin chắc một điều, Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh
không phải là một người, cho nên chuyện hôn nhân và tình ái của họ cũng khác
nhau. Trong khi tra cứu hồ sơ, tìm hiểu manh mối qua các nguồn tư liệu, ( người
viết) cần có thái độ khách quan, tôn trọng chứng cứ mới tìm ra được sự thật
trong mớ tài liệu hỗn độn do lịch sử để lại, về quan hệ hôn nhân, tình ái của
nhân vật đặc biệt này.
Trước hết, cần phân biệt chuyện hôn nhân tình ái của Nguyễn Ái Quốc với Tăng Tuyết Minh, Nguyễn
Ái Quốc với Nguyễn Thị Minh Khai khác
với hôn nhân tình ái giữa Hồ Chí Minh với Đỗ Thị Lạc, Hồ Chí Minh với Nông Thị
Xuân , Hồ Chí
Minh và Lâm Y Lan. Từ đó có thể
rút ra kết luận, quan hệ tình ái giữa Nguyễn Ái Quốc và Tăng
Tuyết Minh, Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai đều hình thành trong đấu tranh cách mạng một
cách chân tình, nồng nhiệt. Những cuộc tình bắt nguồn từ khói lửa chiến loạn
này rất đáng được ca ngợi, không cần phải giấu diếm, càng không nhất thiết có
thái độ bôi nhọ.
Tình ái giữa Hồ Chí Minh
và Đỗ Thị Lạc, Hồ Chí Minh
và Nông Thị Xuân , Hồ
Chí Minh và Lâm Y Lan, trong đó
hàm chứa những nỗi đau triền miên làm người đọc cảm động, tỏ thái độ đồng tình,
đồng thời phản đối chiến tranh, phản đối bạo lực. Hy vọng rằng những tình cảm
nam nữ chân thành này sớm được làm sáng tỏ để nhân gian có cái nhìn đúng đắn về
nhân vật huyền thoại Hồ Chí Minh.
Mùa hè năm 1959, Đảng Cộng sản Trung Quốc họp Hội Bộ Chính trị mở rộng tại Lư Sơn, cũng là lúc Hồ Chí Minh
đến thăm Trung
Quốc với tư cách cá nhân. Chiều
ngày 8 tháng mười, Lưu Thiếu Kỳ cùng Vương Quang Mỹ, Chu Đức
cùng Khang Khắc Thanh, Chu Ân Lai cùng Đặng Dĩnh Siêu, Lý Phú Xuân cùng Thái
Sướng đến biệt thự 394. Hồ Chí Minh thấy nhiều bạn
bè cũ đến thăm, chợt cao hứng hỏi Đặng Dĩnh Siêu: “Tiểu Siêu, nhiều khách quý thế
này, hôm nay tôi phải lấy gì chiêu đãi?”. Một tiếng “Tiểu Siêu” làm Chu Ân Lai
và Đặng Dĩnh Siêu nhớ lại một thời đã qua. Dịp ấy vào năm 1925, Nguyễn Ái Quốc vừa từ Liên Xô về Quảng Châu, biết tin Chu Ân
lai vừa được bổ nhiệm là Hiệu trưởng Trường Quân sự Hoàng Phố, ông ta đã đến
tận phòng ở của hai người chúc mừng. Lúc ấy, Chu Ân Lại gọi vào trong nhà :
“Tiểu Siêu, mang đường ra đây”. Đã hơn ba mươi năm, Hồ Chí Minh đã trở thành ông già “cổ lai hy”, từ một chí
sĩ vong quốc đến người đứng đầu nhà nướcViệt Nam,
tất cả dường như chỉ mới hôm qua. Đặng Dĩnh Siêu đón tiếp Hồ Chí Minh, ánh mắt tươi rói, cười bảo: “Pha cà phê”.
Chiều ngày 12 tháng tám, vào
lúc 5 giờ, Dương Thượng Côn cùng Vương Giá Tường đến biệt thự 394 thăm Hồ Chí
Minh. Một lúc sau có tiếng phụ nữ ồn ào từ ngoài vọng vào. Hồ Chí Minh quay đầu
nhìn ra, chính là đội ngũ “nương tử quân” “giá đáo” gồm Thái Sướng, Đặng Dĩnh
Siêu, Khang Khắc Thanh, Vương Quang Mỹ, ngoài ra còn một vài người chưa quen
biết. Mọi người mời Hồ Chí Minh ở lại Lư Sơn thêm ít ngày.
- Được thôi, sau này Việt Nam thống nhất tôi sẽ sang Lư Sơn ở hẳn một năm hoặc nửa năm.
- Chúng tôi không mời riêng một mình Chủ tịch ở lại
đâu nhé! – Thái Sướng nói giọng đầy ẩn ý.
- Đương nhiên, tôi biết, vì thế , tôi sẽ mời một số
đồng bào…
- Không đâu, chỉ đề nghị Chủ tịch cùng phu nhân đến
thôi.
Hồ Chí Minh cười, chậm rãi nói:
- Được thôi, nhờ Tiểu Siêu đề đạt ý kiến với Hội Phụ
nữ, không được thì phải đền đấy.
- Đúng vậy, Chủ tịch nên chọn một người vợ cách mạng,
chẳng nên bắt đền chị Đặng.
Các bà khách chẳng giữ ý tứ gì, nói năng thoải mái,
cười khanh khách vang khắp nhà. Hồ Chí Minh
luôn sống độc thân. Nhiều năm qua, Việt Nam
và Trung Quốc quan tâm đến tình trạng hôn nhân của ông không
ít, nhưng có lẽ, ngay từ thờ trai trẻ, ông đã chủ tâm lập chí, đất nước chưa
độc lập, thì chưa thành gia thất chăng?
Các “nữ đồng bào” vẫn vui vẻ cười đùa :
- Lần sau Chủ tịch đến đây chị em chúng tôi mong được
ăn kẹo cưới.
Hồ Chí Minh đứng lên, vẫy tay gọi vào trong:
- Mời mang kẹo ra đây chiêu đãi khách quý
- Loại kẹo này chúng tôi không ăn.
- Vậy xin mời các phu nhân dùng cà phê.
- Cà phê cũng không uống.
Hồ Chí Minh cười :
- Vậy tôi đọc một bài thơ được không?
- Không yêu cầu Chủ tịch làm thơ. – Các vị khách đều
biết Hồ Chí Minh sành làm thơ nên mới nói đùa vậy.
Hồ Chí Minh là một người có tính cách đặc biệt, ông nhẹ
nhàng nói, thời kỳ năm 1940, cơ cấu ban lãnh đạo cách mạng Việt Nam được thành lập tại Côn Minh, để cổ vũ quần chúng, tôi
có làm một số “du thi”, xin đọc một bài bài để các nữ đồng chí nghe:
Tam
tứ niên lai vọng đoạn trường
Niệm
lang lưu lạc tại tha hương
Đồng
tâm kết phát thùy thiếp kiên
Cửu
biệt lệ lưu thấp lang diện
Quốc
hận gia sầu lang vật vong
Gia
thường tỏa sự thiếp toàn đương
Đãi
lang diệt địch quy lai nhật
Huề
thủ đoàn viên lạc điền trang.
Tạm dịch nghĩa:
Ba
bốn năm nay trông ngóng đến đứt ruột
Nhớ
chàng lưu lạc nơi quê người
Dải
tóc kết đồng tâm rủ xuống vai thiếp
Dòng
lệ khi từ biệt thấm ướt mặt chàng
Nợ
nước thù nhà chàng không quên
Công việc ở nhà thiếp gánh vác
Đợi
ngày chàng diệt địch trở về
Dắt
tay nhau vui vẻ sống cảnh điền viên.
Các phu nhân chăm chú nghe Hồ Chí Minh đọc từng câu thơ với tâm trạng vô cùng xúc
động. Ông biểu thị tình cảm sau sắc qua từng ngữ điệu, khiến các vị khách, sau
khi rời biệt thự 394 lòng đầy cảm thán: “Nếu như Việt Nam sớm độc lập, thống nhất, Hồ Chí Minh
nhất định sẽ là người chồng mẫu mực, hết lòng thương yêu vợ”. Trước lúc chia
tay, các phu nhân còn tranh nhau đứng gần Hồ Chí Minh
chụp ảnh kỷ niệm làm Dương Thượng Côn và Vương Giá Tường phải bật cười”.
Bài viết trên là căn cứ vào “Hồ sơ Lư Sơn” của Mã Xã
Hương, chương 4 “ Hồ Chí Minh bí mật đến Lư Sơn”, do Nhân dân xuất bản xã ấn
hành tháng năm năm 2006. Căn cứ văn bản trên, tôi đặc biệt
nghi ngờ Thái Sướng và Đặng Dĩnh Siêu. Có một tấm ảnh Hồ Chí Minh cầm tay Đặng dĩnh Siêu và Thái Sướng cười
giữa một đoạn đường núi được Han
Suyin chụp, Trương Liên Khang dịch trong cuốn “ Chu Ân Lai và Trung Quốc hiện
đại”, trang 314. “Hồ sơ Lư Sơn, Hồ Chí Minh bí mật đến Lư Sơn”, kèm theo tấm
ảnh, Hồ Chí Minh đứng giữa, bên phải cầm tay Đặng Dĩnh Siêu,
bên trái cầm tay Thái Sướng, ba người tỏ ra rất thân mật (xem ảnh dưới). Tôi
không tin việc Hồ
Chí Minh, với tư cách Chủ tịch,
lấy quốc gia làm trọng, vậy mà lại gọi phu nhân của Chu Ân Lai bằng cái tên
“Tiểu Siêu”, Đặng Dĩnh Siêu chẳng những không phật ý mà còn vui vẻ mỉm cười.
Lại nữa, Hồ Chí
Minh trả lời các mệnh phụ phu
nhân “Việt Nam thống nhất tôi sẽ sang Lư Sơn ở hẳn một năm
hoặc nửa năm”. Thái Sướng nói giọng đầy ẩn ý: “Chúng tôi không mời riêng một
mình Chủ tịch ở lại đâu nhé!”. Những lời đối đáp có tính cợt nhả ấy đều vượt
qua nghi lễ ngoại giao, thậm chí vượt qua cả tình cảm đồng chí, nhất là, khi ấy
Đặng Dĩnh Siêu và Thái Sướng lại là cán
bộ cao cấp lãnh đạo Hội Phụ nữ Trung Quốc. Chuyện các vị
nữ khách đề nghị Hồ
Chí Minh đọc thơ tình cũng rất
khó xảy ra. Người viết không tin là giữa Hồ Chí Minh
và các phu nhân có bất kỳ mối quan hệ tình cảm mờ ám nào. Tôi đồ rằng, trong số
các mệnh phụ phu nhân đến biệt thự 394 hôm ấy, có người ngấm ngầm muốn công
khai bí mật thân phận thật của Hồ Chí Minh trước bàn dân
thiên hạ. Chính vì vậy, qua những lời nói khá tình cảm của Hồ Chí Minh và Đặng Dĩnh Siêu, làm tác giả Bùi Tín hiểu
lầm là hai người đã từng yêu nhau.
Trở lại năm 1926, Hồ Chí Minh
và Tăng Tuyết
Minh chính thức cử hành hôn lễ
tại Quảng Châu, Đặng Dĩnh Siêu, Thái Sướng từng là người làm mối và chủ trì.
Năm 1958, xẩy ra vụ “Tăng Tuyết Minh hôn nhân xung đột song bào án kiện” (Vụ án
kép những mâu thuẫn hôn nhân của Tăng Tuyết Minh”, Thái Sướng phải đứng ra giải
quyết mới dẹp được sóng gió. Cũng năm 1958, Hồ Chí Minh
vì muốn hoàn thành tâm nguyện kết hôn cùng Lâm
Y Lan nên đã nhờ Đào Chú, Chu Ân Lai giúp đỡ. Theo những bằng chứng đáng tin
cậy, có thể thấy, Đặng Dĩnh Siêu, Thái Sướng
biết rất rõ Nguyễn
Ái Quốc và Hồ Chí Minh không phải là một người, biết rõ Nguyễn Ái Quốc đã bị bệnh chết, càng rõ hơn, Hồ Chí Minh là kẻ bội bạc hôn nhân. Tuy nhiên, với Lâm Y
Lan, Hồ Chí Minh lại đặc biệt dành tình cảm cho bà, khiến tôi
vô cùng kính trọng và biểu đồng tình.
Ngày 16 tháng bảy năm
1947, Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn một tờ báo nước ngoài: “Đã
hỏi đến chuyện hôn nhân và tương lai, xin hãy để tôi tự nhiên trả lời. Tôi
không có gia đình, không vợ con, Việt Nam chính là gia đình tôi, các bậc phụ
lão chính là người thân của tôi, phụ nữ Việt Nam chính là chị em tôi. Tôi chỉ
có một điều duy nhất phải theo đuổi là đấu tranh để Việt Nam độc lập, thống
nhất và dân chủ. Sau khi nguyện vọng hoàn thành, tôi sẽ cáo lão hồi hương, làm
một người dân bình thường, du ngoạn núi sông, trồng cây, viết sách”.
Đoạn trả lời phỏng vấn trên được dẫn từ “Hồ Chí Minh
văn tập”, tập V, trang 171, Nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia, làm tôi suy nghĩ mãi. Trừ đoạn nói là không gia đình, không vợ con, Hồ Chí Minh sau khi hoàn thành nguyện vọng không thấy ông
cáo lão về quê, bởi suy cho cùng, nếu thực hiện lời hứa ấy thì ông về quê nào?
Vào thời kỳ trước năm 1947, Hồ Chí Minh chưa từng công khai quê quán hoặc thừa nhận
mình là Nguyễn Ái Quốc, thậm chí còn tích cực tranh thủ nước Mỹ, yêu cầu viện
trợ giúp đỡ Việt
Nam giành độc lập. Trong thâm tâm
Hồ Chí Minh, phải chăng, ông đợi sau khi Việt Nam độc lập, Đài Loan được ủy thác cho quân Đồng minh
quản lý cũng giành độc lập, như thế, ông có thể đàng hoàng trở về quê hương,
thực hiện lời hứa với người em Hồ Tập Dưỡng “Không thành công không về quê
hương”.Tuy nhiên, trời chẳng chiều người, chỉ một năm sau, quân đội Quốc dân
đảng tiến nhập Đài Loan, thế là Hồ Chí Minh
chẳng bao giờ có thể trở về cố hương, đúng như lời Ngô Trọc Lưu nói, ông Hồ là
“đứa con côi châu Á”.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét